Thứ Bảy, 26 tháng 10, 2013

Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa*

*Phát biểu của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại đây



Nào, hỡi anh em.

Để nhiệt liệt chào mừng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội do đảng ta dẫn dắt có thể chưa thấy trong...một trăm năm tới. Đề nghị anh em (những người có lương tri) trên toàn cõi VN hãy nổ những tràng bịp bịp bịp.. để bày tỏ sự ủng hộ cho con đường của đảng ta mà cụ thể do tổng bí thư sáng suốt (vậy mà có kẻ thối dám bảo ngài là Lú) Nguyễn Phú Trọng của chúng ta làm người lài chéo (í lộn chèo lái).

Mở ngoặc không hạn chế số lượng cũng như số lần bịp. Những người đang bị tào tháo đuổi và trẻ em (chưa kiểm soát được hành vi) được khuyến khích tham gia. Những người bị táo bón có thể nhờ những người bị đau bụng kinh niên…làm thay.
Đảng cộng sản việt nam quang vinh muôn năm !
Đảng cộng sản việt nam quang vinh muôn năm !
He he giờ mình mới hiểu chữ muôn năm ở đít câu khẩu hiệu trên :D

Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013

Quyền có thần tượng và quyền được thông tin*

*MLC: Bài Quyền có thần tượng của tác giả Hiệu Minh trên Quêchoa đọc tại đây
 --------------------------
Lời dẫn: Đến hôm nay đám tang tướng Giáp trôi qua đã hơn một tuần.
Một đám tang thể hiện sự chia rẽ sâu sắc trong lòng người Việt. Sự chia rẽ ấy như vết thương lòng. Một vết thương dai dẳng, dai dẳng đến nỗi đôi khi ta lãng quên kiểu như một bệnh nhân nan y phải sống cùng bệnh tật. Vậy mà không, nó vẫn nhức nhối và hành hạ người Việt mỗi khi nó có cơ hội. Đám tang ông Giáp là cơ hội ấy.

Dĩ nhiên bài này tôi cũng không muốn mình là tác nhân chà xát lên vết thương ấy cũng như không có ý định để chứng minh mình là "fan" hay "kẻ thù" của tướng Giáp bằng bất cứ lập luận hay luận cứ nào.
Một người bình thường đã có kẻ yêu người ghét huống hồ tướng Giáp một "nhân vật lịch sử" thần tượng của nhiều người dĩ nhiên cũng là "kẻ thù" của nhiều người khác.
Đọc toàn bộ bài viết của Hiệu Minh có thể dễ dàng nhận thấy sự tôn thờ thành kính nhiệt thành của tác giả đối với tướng Giáp. Ông đích thực thuộc về phía "fan" của tướng Giáp. Nếu chỉ có thế thì chẳng có điều cần phải nói lại với ông sau đây.
Ông viết "Nếu ai đó thích hay không thần tượng tướng Giáp cũng là bình thường, do vị trí của họ từng đứng bên này hay bên kia của cuộc chiến. Nhưng không tham gia “lên đồng, hội chứng Bắc Triều Tiên” thì bạn đừng chế giễu họ. Muốn hướng kiểu dân chủ phương Tây, hãy tôn trọng ý kiến khác biệt."
Ở đây ông kêu gọi "tôn trọng sự khác biệt" nhưng cũng như những "thủ thuật" mà cánh báo chí "lề phải" vẫn làm, ông chỉ coi những người "thần tượng" tướng Giáp là khác biệt. Tại sao ông không coi "những người không thần tượng" tướng Giáp ở vế đối lập kia là "ý kiến khác biệt"?
Một chỗ khác ông viết "Một số người còn viết những lời khiếm nhã dành cho vị tướng 103 tuổi vừa nằm xuống, mà lẽ ra người có văn hóa nên tránh. Nếu họ viết lúc tướng Giáp còn sống không hiểu sự thể sẽ thế nào".
Trong đám tang một người bình thường chỉ có cơ quan đoàn thể, bạn bè, hàng xóm, v.v của người đã khuất đến đưa tiễn, chắc chắn sẽ không ai nói những lời gì "khó nghe" hay "khiếm nhã" (nhưng chỗ khác thì chưa chắc đâu nhé) vì đối với truyền thống người Việt nghĩa tử là nghĩa tận hay chín bỏ làm mười nhất là với người vừa nằm xuống.
Đi chệch ra ngoài một chút, trên một diễn đàn có người nói "sao không để qua đám tang cụ rồi hãy nói".
Nhưng tướng Giáp là một "nhân vật lịch sử" lại là một "huyền thoại" gắn với biết bao biến cố vui mừng hay đau thương của hàng triệu người Việt nên sự ra đi của ông tất nhiên là một sự kiện lịch sử. Đứng dưới góc độ truyền thông sự kiện này là một dạng tin "hot" người ta không thực hiện phân tích, bình luận lúc sự kiện đang "hot" thì đợi đến lúc nào?
Một điều nữa, người ta lên án những người có những lời lẽ "khiếm nhã", những tin tức đưa tin "bôi nhọ", "nói xấu" đại tướng nhưng lại tán đồng những bài báo "ca tụng", đó chẳng phải là hành động chấp nhận cho sự bất cân xứng trong truyền thông hay sao?
Những người "hâm mộ" tướng Giáp rõ ràng đang "cưỡng bức" những người khác cũng phải tôn thờ thần tượng của họ giống như họ.
Quyền được thần tượng trong trường hợp này là quyền của những "fan" tướng Giáp, của ông Hiệu Minh nhưng quyền được thông tin là của tất cả mọi người.

Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013

Trận đánh tối thượng bị bỏ lỡ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp*


*Tiêu đề bài của Boxit


-------------
Ơn trời mọi chuyện cũng đã qua
MLC
Phù...cuối cùng thì cũng thở phào vì nhẹ nhõm.
Cuối cùng thì lũ trẻ nhà này cũng được xem những kênh truyền hình chúng ưa thích để Mõ rảnh rang đọc nốt tập 2 Bên Thắng Cuộc và thỉnh thoảng ngó internet.
Một tuần nay rác tai và nhức đầu !

Phải trung thực thú nhận sẽ chả có đám ma nào ở cõi Việt Nam mà có đông đảo người dân nhiệt thành thương tiếc, tự nguyện đưa tiễn thế này nữa dù chính quyền chả phải kêu gọi, huy động gì...
Ở xóm tui ở nhiều người tỏ ra thương tiếc ông vô cùng. Vợ một cậu trai trẻ bảo "nhà em cứ bần thần từ hôm qua (tức thứ 7), sáng nay dậy sớm k ăn uống gì phóng xe ra đường Kim Mã nhưng đông quá đành trở về". Tôi hỏi thế tướng Giáp huyền thoại ấy đánh những trận nào là nổi tiếng và làm những gì là "hết lòng vì dân vì nước"?
Mình bỗng ăn một rổ đá.
Một bà nói: trận Điện Biên Phủ cả thế giới người ta đều công nhận tướng Giáp là huyền thoại kìa.
Một tay trung niên nói: báo chí nhà nước đều đã nói.
Một thằng ranh bảo: bác này phản động quá.
Tui định nói tiếp nhưng nghe thấy từ "phản động" nên...
Bất chợt nghĩ đến việc các tín đồ Hồi giáo ở Iraq đổ xăng đốt chết con (em) gái (dám yêu người đàn ông khác khi chồng chết) chỉ để giữ thể diện cho gia đình  hay chuyện giữa phố phường náo nhiệt, người ta thản nhiên dùng dao cứa cổ người khác vì tội dám ...xúc phạm đến lãnh tụ tối cao của họ. Nghĩ về cuộc thanh trừng trong cải cách ruộng đất 1953, 54 ở Miền Bắc và vụ cô Lý Mỹ tố cáo cha mẹ là tư sản hồi 1975 ở Miền Nam Việt Nam, tôi đành im lặng. Chả có gì là bảo đảm nếu những cái đầu nóng ấy bùng nổ. Không phải là tui sợ đánh nhau mà sợ những cái đầu hoang dã và mê muội.
Đấy là trong cuộc sống thực còn thế giới ảo?.
Dĩ nhiên những ý kiến như kiểu của Mõ này cũng bị ném đá và rủa xả không ít.
Trên Phương Bích blog
Một kẻ lớn tiếng: "đăng những comment của Mõ Làng Chờ, ... là không có đạo đức tối thiểu...". May chủ nhà bảo "tôi chỉ k đăng những comment thô tục, còn đã nghe nói thuận thì phải nghe nói ngược lại".
Trên Hiệu Minh.org
Một kẻ nói: "trước đây đọc Huỳnh Ngọc Chênh,  JB Nguyễn Hữu Vinh, Mẹ Nấm thì ủng hộ họ, ủng hộ dân chủ nay thấy họ nói thật thất vọng... họ chiến thắng bằng mọi giá..."
Và comment của Mõ cũng bị chủ nhà xoá thẳng cánh không một lời giải thích.
Ô hay phải vật vã khóc lóc, rỏ nước mắt mới là thương tiếc? 
Cứ tưởng chỉ những kẻ ít học hay bị nhồi sọ trong nước mới cuồng tín thế. Hoá ra nhiều kẻ mang tiếng là đang sống tại nước ngoài, tại "đất nước được bày tỏ chính kiến tự do" cũng cuồng tín không kém.
-------------
Đến đây, bỗng một cậu trong phòng cơ quan tôi cất lên
- Hôm qua thấy Tivi chiếu cảnh một thằng trẻ khóc lóc vật vã trên tivi thấy thế nào ấy. Đàn bà đã đành...
- Một chị: đàn bà cũng chả khóc thế, tiếc thương thì tiếc thương nhưng cùng lắm là chảy nước mắt, đằng này...
- Chị khác: Tivi họ quay họ cũng phải chọn người dễ khóc chứ, chọn mấy ông diễn viên Hàn Quốc thì khóc được ngay...
---------------
Cuối cùng thì mình cũng muốn khép lại chủ đề này, hôm nọ mình đã nói rằng "đây là dịp hiếm có để những kẻ lợi dụng đám tang của đại tướng VNG trục lợi". Nay mình cũng không muốn làm cái việc đó.
Cuộc sống vẫn đang tiếp diễn với vô số những việc phải làm. Ai cũng cần ăn, cần sống. Chả riêng gì những người không liên quan gì đến đại tướng mà ngay cả con cháu của đại tướng cũng thế thôi. Riêng Mõ còn cần tiền để đóng học cho con cái và thanh toán nốt cái hoá đơn tiền điện đang chờ ở nhà...
Mà nhìn xung quanh thấy khối kẻ từ đầu năm đến giờ vẫn chưa được công ty trả lương.
----------------

Trận đánh tối thượng bị bỏ lỡ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

(Nguồn: Boxitvn.blogspot.com) 


Thục-Quyên

Trong những xúc động, xôn xao, lễ lạc, chương trình, bàn cãi,... điểm chính của sự việc vẫn là sự ra đi của một con người. Một người chồng, người cha, người ông, người cụ...

Và dù trong những năm tháng dài sức khỏe cụ xuống dần, dù biết lần ra đi cuối cùng không thể tránh, chắc chắn gia đình cụ đang bồi hồi, thương tiếc. Mong rằng nếu cụ đã tập thiền đều đặn thì không chỉ vì lý do sức khỏe mà như vài bài báo kể lại cụ có nghiên cứu kinh sách đạo Phật, và như vậy có lẽ cụ đã có dịp để quán và dạy cho gia đình về vô thường, một trong ba dấu ấn của Phật giáo.

Trong số vài trăm bài viết tràn ngập các tờ báo giấy cũng như báo mạng kể từ ngày cụ Giáp từ trần, khía cạnh tâm linh của cụ không được nhắc tới nhiều. Phải nói là quá hiếm hoi. Có lẽ vì không phải là khía cạnh nổi của cụ, nhưng có lẽ đồng thời cũng vì không hợp với thị hiếu của đám đông.

“Đại tướng huyền thoại” – đó mới là khía cạnh mọi người muốn nhắc tới.

Tại sao “huyền thoại”? Tại sao một người từ lúc sống đã là một huyền thoại?

Thật ra con người Võ Nguyên Giáp không là một huyền thoại. Đại tướng Võ Nguyên Giáp mới là một huyền thoại. Vị Đại tướng mang hào quang đã chiến thắng hai cường quốc Tây phương với tên tuổi gắn liền vào một sự kiện lịch sử, chiến thắng quân sự Điện Biên Phủ.

Mà huyền thoại phải chăng chỉ là một trong những phiên bản của một sự kiện lịch sử? Vì đặc điểm của huyền thoại là dựa trên những lời kể không cần minh chứng.

Theo từ điển văn học (Nhà xuất bản Thế giới, 2004) do bốn giáo sư chủ biên Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá, Đỗ Đức Hiểu, mục Huyền thoại (trang 668): Nhân vật lịch sử có thể trở thành nhân vật huyền thoại: truyện pha trộn cái thực với cái hoang đường, cái hư ảo, cái kỳ diệu, thường bằng phương pháp phóng đại các kích cỡ, làm lệch lạc hình tượng nhân vật hay sự kiện lịch sử, có khi thần bí hóa nó, nhằm mục đích giải thích một nhân vật kỳ vĩ hoặc tuyên truyền trong đại chúng một tư tưởng nào đó.”

Theo Sigmund Freud huyền thoại là một giấc mơ của tập thể, hay của một cá nhân, nổi lên từ vô thức. (Sometimes myths are public dreams which, like private dreams, emerge from the unconscious mind).

Và Jung đã nhấn mạnh: “Thật vậy, huyền thoại thường bộc lộ các nguyên mẫu của tập thể vô thức (Indeed, myths often reveal the archetypes of the collective unconscious).

Cụ Võ Nguyên Giáp vừa trút hơi thở cuối cùng sau 1559 ngày nằm viện.

Suốt trong 1559 ngày không thấy có ai nhắc tới cụ, chỉ có lần Đại tướng Võ Nguyên Giáp xuất hiện trên báo chí trong quân phục đại lễ gắn đầy huy chương, dù thân thể đã quá suy yếu chỉ còn như một bộ xương đang nằm trên giường bệnh. Nhìn từ một khía cạnh, thì sự ra đi của cụ Giáp chính là sự thăng hoa của vị Đại tướng huyền thoại, từ những từ ngữ đẹp như “thiên tài quân sự”, “đại trí”, “đại nhân”, “đại dũng” tới “hậu duệ của Phật hoàng Trần Nhân Tông”, “Thánh tướng”... và chưa biết còn gì gì nữa. Đã là huyền thoại thì chẳng cần phải tranh cãi và đòi hỏi chứng minh.

Nhưng một khía cạnh khác quan trọng hơn nhiều và đáng lưu tâm là “giấc mơ của tập thể” như Freud đã nhắc tới.

Nhìn vào hiện tượng Đại tướng huyền thoại những ngày qua và trong những ngày tới để mà nhìn thấy những thèm khát của người dân Việt. Ý thức được sự tụt hậu cả thế kỷ của đất nước đối với thế giới, người dân Việt mơ ước một thiên tài cứu nguy, và cũng chính sự tụt hậu này cũng mới đẩy người Việt tiếp tục bấu víu vào một thiên tài quân sự, không hiểu rằng giải pháp quân sự sẽ không thể đưa Việt Nam thoát cảnh khốn cùng trong thế kỷ thứ 21 này.

Nhưng còn nữa. Vị Đại tướng huyền thoại được khoác áo Đại trí, Đại nhân, Đại dũng vì trong vũng lầy hiện tại chỉ có toàn tiểu nhân, sâu bọ, tham nhũng, trộm cắp. Dân chúng cần một điểm tựa, một hy vọng, cần một vị thánh không tỳ vết với quyền uy siêu phàm để cứu họ, như chiếc phao cuối cùng, như đốm lửa trong đêm tối.

Những dòng nước mắt đang thành suối khóc một vị Đại tướng huyền thoại cũng là để khóc cho huyền thoại Tự do No ấm mà sau Điện Biên Phủ và gần 60 năm xương máu chất chồng vẫn còn là huyền thoại.

Trong Phật giáo có chữ cộng nghiệp. Nghiệp là thói quen huân tập tạo thành sức mạnh, chi phối tất cả mọi sinh hoạt trong cuộc sống con người. Nghiệp có thể tốt hay xấu. Nhìn trong lăng kính của Phật giáo, Điện Biên Phủ hay cuộc Thống nhất đẫm máu tháng 4 năm 1975 là do cộng nghiệp của dân tộc Việt. Cộng nghiệp này đã không nảy sanh được một Gandhi, một Mandela, hay cũng có thể hồn thiêng sông núi đã tụ được những vị Đại nhân nhưng vì cộng nghiệp dân Việt đã không nhận diện được họ?

Nhìn như vậy, nhìn như một hiện tượng tôn giáo, xã hội, thì không có gì phải tranh cãi về vị Đại tướng huyền thoại.

Nhưng những cố gắng biện luận kiểu “Đại tướng Võ Nguyên Giáp tuy là một thiên tài quân sự kiệt xuất thắng hai cường quốc Tây phương, một đại trí, đại dũng, nhưng vì cô thế nên phải nhẫn nhục trước những tệ đoan, bất công xã hội” là khập khễnh, không đứng vững được với thời gian, khi thế hệ trẻ Việt Nam qua những phương tiện truyền thông có cơ hội so sánh tin tức đa chiều, gạt bỏ thói sùng bái tín điều của những thế kỷ trước.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp danh tiếng lẫy lừng năm châu bốn bể đúng theo câu “thời thế tạo anh hùng”, vì rõ ràng ông đã chỉ được phong đại tướng theo sự nhận xét và theo cảm tính của một người duy nhất, vì ông đã 8 năm làm đảng viên cộng sản, và cũng chỉ trong điều kiện đặc biệt lúc đó của lịch sử. Được làm vua thua làm giặc, mọi hiển hách, hào quang sau trận Điện Biên Phủ nghiễm nhiên vào tay vị đại tướng. Có những cố gắng của vài cá nhân lý luận đó không phải là công của một đại tướng mà là của nhiều tướng khác và nhất là của toàn dân quyết tâm giành độc lập, trong đó có cả những người yêu nước bị Đảng Cộng sản thủ tiêu. Nhưng đây cũng là lý luận chật hẹp. Nếu lý luận như vậy thì chẳng có Napoléon, chẳng có Hitler. Nhưng cũng như Napoléon hay Hitler, lên voi hay xuống chó là hai mặt của một chiếc mề đay. Không thể chọn mặt này và bỏ mặt kia.

[…]

Có lẽ một mai, lịch sử sẽ phán xét Đại tướng Võ Nguyên Giáp một cách còn nghiêm khắc hơn bình thường. Vì Đại tướng luôn cố gắng và thành công trong việc chứng minh mình không chỉ là một kẻ võ biền mà là một người trí thức. Đại tướng hoàn toàn ý thức cần tuyên bố những câu gì để được sự kính trọng của thế giới. Trong cuộc đối thoại năm 1995 với nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Mc Namara, chính Đại tướng đã thừa bén nhạy để hiểu khía cạnh tiêu cực của biệt danh “Đại tướng huyền thoại” để phủ nhận nó: “[…] vị tướng dù có công lao lớn đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Chỉ có nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ. Các ngài gọi tôi là vị tướng thần thoại, nhưng tôi tự nghĩ tôi bình đẳng với những người lính của mình. Tôi hoàn thành nhiệm vụ cũng như những người lính hoàn thành nhiệm vụ. Trên bình diện nhiệm vụ thì tôi cũng như người lính là bình đẳng, cho nên tôi rất tôn trọng người lính”.

Đại tướng Giáp thừa ngoại ngữ và phương tiện để theo dõi tình hình quốc tế. Ông thừa biết thời nay chẳng có bạn hay thù nào là vĩnh viễn mà chỉ có quyền lợi đất nước và dân tộc là vĩnh cửu. Ông thừa thông minh để biết mất quyền tự quyết cho ngoại bang là cái chết của dân tộc, chẳng có khác biệt giữa mất cho Pháp, cho Mỹ hay cho Trung Cộng. Nhưng dù có rất nhiều cơ hội tiếp xúc với giới truyền thông quốc tế, ông chỉ luôn hân hoan nhắc tới chiến lược, tới đại thắng, tới giải phóng mà không chút ngập ngừng.

Thiết nghĩ không ai được quyền lên án cá nhân con người Võ Nguyên Giáp hay Đại tướng Võ Nguyên Giáp là hèn nhát khi ông không dấn thân dùng tiếng tăm của mình để nói lớn chí nguyện của dân tộc, dù chỉ một lần:

Không có một chiến thắng nào cả!

Không bảo vệ được đất đai tổ tiên để lại, không xây dựng được một quốc gia tự chủ đúng nghĩa, cho dân và vì dân, thì mọi xương máu hy sinh là uổng phí!

Như tất cả mọi người, cá nhân cụ Giáp có quyền mong được sống yên lành, con cháu không bị khủng bố, cướp đất sống ngay trên quê hương mình.

Đại tướng Giáp cũng đã trung thành với chính mình; mặc dù Đại tướng đã có ra mệnh lệnh: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa” nhưng Đại tướng cũng có nói: “Kẻ địch mạnh thì ta tránh chúng. Kẻ địch yếu thì ta đánh chúng”. Đó là cách hành xử bình thường, hợp lý, với đôi chút khôn ngoan.

Chỉ một bậc Đại nhân, Đại trí, Đại dũng mới có thể hành xử khác mọi người.

Năm 2007 khi Thiền sư Nhất Hạnh về nước và đi suốt Nam Trung Bắc để làm điều mà trong khả năng một ông thầy tu có thể làm được, điều mà Đức Đạt Lai Lạt Ma mong muốn suốt cuộc đời làm được tại Trung Quốc, là cầu nguyện và cử hành những cuộc “Chẩn tế bình đẳng”. Thầy thân chinh đến thăm Đại tướng để trao tặng ông bức thư pháp chính tay thầy viết:

Bản Môn Xuân Ấy Còn Nguyên Vẹn

Không thấy nhắc bức thư pháp này có được được nằm cạnh chữ “Nhẫn” được kể là treo rất trang trọng trên tường tư gia của Đại tướng hay không. Và cũng không biết khi còn sinh tiền, Đại tướng hiểu chữ “Nhẫn” ra sao và có bao giờ nhìn sâu để tìm lại cái “Tâm ban đầu” của mình cũng như của biết bao triệu người trẻ đã hy sinh tính mạng để tranh đấu cho sự tự do, no ấm, thịnh vượng của dân tộc?

Huy chương, bảng vàng, bia đá rồi cũng tan đi.

Tiếc thay cho Đại tướng đã bỏ lỡ trận đánh tối thượng của đời mình, trận đánh để thấy được cái vô thường, vô ngã, tháo gỡ được những phiền não như tham giận, sợ hãi, kiêu căng...

Thành kính nguyện cầu Hương linh cụ Võ Nguyên Giáp sớm an bình nơi cõi Phật.

T. Q.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
--------------

Khóc cho chính mình

 (Nguồn: pro&contra)


Dạ Ngân
Quá nhiều nước mắt trong những ngày này. Không phải mọi người đều khóc Ông. Không bao giờ có chuyện tất cả mọi người đều đồng lòng, huống chi đây là cái chết của một vị tướng thuộc phe thắng cuộc.
Nhưng sự thực thì nước mắt đã tuôn rơi nhiều hơn mức người ta có thể hình dung. Những người trong cuộc, những người từng cùng một chiến hào với Ông biết rõ, nỗi niềm này không giống hoàn toàn với hồi người ta khóc Hồ Chí Minh. Hồi ấy là cuộc chiến, cuộc chiến đang hồi mất mát lớn sau tổng tấn công Mậu Thân. Hồi ấy những người kháng chiến khóc một lãnh tụ, một thuyền trưởng, một con tàu và một cảm giác mồ côi chung.
Bây giờ, mọi thứ đã xa và đã cũ. Nhưng sao người ta khóc Ông không khác gì “đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa”? Nhiều tự phát, nếu không nói là hoàn toàn tự nguyện, tự phát. Người ta đã khiến những người cách trở cảm thấy bồn chồn, những người ưu thời mẫn thế cảm thấy chấn động và những người bàng quan cũng phải tò mò, suy nghĩ.
Khóc vì cùng quá khứ đau thương.
Khóc cho những lãng quên đã từng hiện hữu.
Khóc cho những bạc đãi không nói to lên được.
Khóc cho những trầm luân của đời người.
Khóc cho bất công và oan ức mà Ông từng là biểu tượng và cũng là một chiếc phao, cho họ.
Khóc cho những trần ai mà con người đã và sẽ còn nếm trải.
Và chắc là trên hết, người ta khóc cho chính mình, cho sự bế tắc của chính mình, cho chung quanh và cho mỗi ngày sống tới.
Ông đã thoát ra, bằng cú về quê ngoạn mục, không nghĩa trang chung gì cả. Và Ông sẽ được người ta tìm về để hành hương, đển khấn khứa, để tìm quên, để xin một niềm an ủi. Phần Ông, một danh tướng còn lại, không gì xứng đáng hơn hai từ Danh Tướng ấy.
Nhưng rồi người ta sẽ lại về với nỗi niềm của mình, với mưu sinh của tha nhân, với những cuộc vật lộn triền miên với nền giáo dục với ngành y tế, với giao thông, với hỗn loạn, với sự tan rữa, mỗi ngày.
Dù muộn, vẫn xin có mấy dòng khóc cho chính mình, một người con của liệt sĩ nhà tù, giống như Ông. Khóc cho mất mát đã từng và đổ vỡ cũng đã từng. Và khóc cho bế tắc của một quốc gia thật ít hòa giải và thanh bình dù đã có hòa bình, đã lâu.
© 2013 Dạ Ngân & pro&contra


Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2013

Cái chết của đại tướng*

*MLC: Một tuần nay trên phương tiện thông tin truyền thông kể cả lề đảng, lề dân đều tràn ngập tin tức về cái chết của huyền thoại quân sự một thời của Việt Nam, đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Có lẽ từ lâu lắm rồi, từ thời tôi, một thằng mõ chả bao giờ để ý đến chuyện chính trị chính em, không hề biết ai là chủ tịch nước, ai là tổng bí thư, cơ cấu đảng như thế nào, v.v. tôi chìm ngập vào tuổi trẻ ham chơi, mộng mơ và ngây thơ với lũ bạn cũng ham chơi như tôi vậy.
Chỉ thỉnh thoảng lũ trẻ ham chơi bị dừng lại và tò mò vì những... đám ma, những đám ma các vị khai quốc công thần của chế độ. Nói đúng hơn những đám ma ấy xen ngang các cuộc vui chơi của lũ chúng tôi vì đó là những đám quốc tang mà quốc tang thì cả nước phải than khóc, phải nhỏ lệ, phải để tang.  Đám ma đầu tiên gợi cho tôi một chút để ý là đám ma ông Lê Duẩn. Hồi đó tôi có cảm giác cả cây cối, đất trời và vạn vật ở xứ này đều phải khóc thương và để tang ông vậy...
Hơn ba chục năm sau vào tháng 10 năm 2013 này lại có một đám ma nữa có được dáng dấp như vậy.
Tối qua cả gia đình ngồi ăn cơm tối. Ý trung nhân của tôi, một người vô cùng hâm mộ đại tướng (nhưng hỏi hâm mộ đại tướng ở điểm gì thì không trả lời được) buột miệng "sẽ chả bao giờ có một đám tang nào như thế nữa". Tôi cũng muốn đồng ý hoàn toàn với vị trung nhân của tôi nhưng hơi khác một chút là "đó là đám ma cuối 
cùng của một đế độ".
*Đại tướng: một nhân vật trong truyện Không Gia Đình.
-------------
P/S: Trong những bài viết về Võ Nguyên Giáp những ngày vừa qua tôi đặc biệt thú vị ở ba bài viết của ba tác giả mà tôi thấy có sự đồng cảm đó là Huỳnh Ngọc Chênh, Phạm Thị Hoài và blogger Phương Bích. Mạn phép các tác giả xin copy lại 3 bài viết đó về đây.
-----------------------------------------------

Thứ ba, ngày 08 tháng mười năm 2013

TÔI TRUNG



Nhìn từ hệ thống nầy, ông là danh tướng, là đại khai quốc công thần  và ông là bậc tôi trung, tôi trung hiếm có.
Nếu ông là đại tướng của chế độ dân chủ thực sự, sau chiến tranh, ông có thể như Eisenhower của Mỹ, ra ứng cử và chắc chắc sẽ dành tuyệt đại đa số lá phiếu từ người dân, bỏ xa vạn dặm các đối thủ Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng...nếu như những người nầy dám ra tranh cử với ông.
Nhưng ông là người của chế độ độc đảng toàn trị và ông là bậc tôi trung, mỗi lời mở ra không bao giờ nằm ngoài ý Bác, ý Đảng nên ông thụ động ngồi chờ sự chọn lựa. Bác và Đảng đã không chọn lựa ông, mà chọn lựa Lê Duẩn. Ông an phận chấp hành.

Thế nhưng danh tiếng của ông lẫy lừng vượt ra khỏi biên giới của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đến khắp 5 Châu, nên có kẻ trong triều đình không muốn để ông an phận. Họ tìm cách vùi dập ông. Những người cùng thời vùi dập ông đã đành, đến bọn tiểu nhân đắc chí về sau, là hàng nhãi nhép so với ông cũng nhân danh triều đình vùi dập ông không thương xót. Nghe nói có những lúc ông chỉ cần quắc mắt đập bàn là tình hình sẽ bùng nổ. Bao nhiêu đàn em mến phục ông đang chờ đợi nơi ông. Nhưng ông là bậc tôi trung, ông luôn chấp hành nghị quyết và ý chí của đảng, dù nhiều lúc ý chí đó bị bọn tiểu nhân lợi dụng.. Nghị quyết đặt ông ở đâu và ông luôn chấp hành ngồi ở đó. Sự chấp hành tuyệt đối nguyên tắc đảng của ông làm người ta thấy ông là mẫu người của "Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung". Ông là hình ảnh của Nhạc Phi, của Nguyễn Trải...thời phong kiến xa xưa, chiến thắng lẫy lừng mọi kẻ thù ngoài biên cương nhưng không thắng nổi bọn hồ cáo chốn triều đình vì lòng trung quân mê muội của mình.

Ông một thời là thần tượng của tôi.
Tôi biết về Võ Nguyên Giáp và Điện Biên Phủ rất sớm, cỡ chừng 5,6 tuổi và tôi biết như thế này: Có một đồn Tây rất to, bao phủ kín mít bằng dây điện, ai xông vào là điện giựt chết nhăn răng, nhưng quân ta vẫn xông vào hốt đồn được nhờ mặc nguyên áo giáp chống được điện giựt.
Có lẽ những ông trẻ trong làng lớn hơn tôi bàn tán về chiến thắng Điện Biên Phủ dưới sự chỉ huy của đại tướng Võ Nguyên Giáp như vậy nên nó ngấm vào ký ức của tôi một thời gian khá lâu như vậy.
Sau nầy lớn lên thêm chút đỉnh thì tôi lờ mờ hiểu được Võ Nguyên Giáp là ai, Điện Biên Phủ là như thế nào. Nhưng cũng bắt đầu từ đó, thông tin về Tướng Giáp bị biệt tăm. Miền Nam đã xây dựng thể chế cộng hòa chống cộng quyết liệt nên dân làng tôi không còn dám bàn tán về Việt Minh, về tướng Giáp và về Điện Biên Phủ nữa. Lớn lên hơn chút, thỉnh thoảng tôi vẫn lén lút mở đài Hà Nội hoặc đài Giải Phóng nhưng vẫn chưa bao giờ  nghe các đài ấy nhắc đến Võ Nguyên Giáp. Tôi quên ông đi.
Cho đến năm 1970, bổng dưng báo Công Luận ở Sài Gòn đăng loạt tài liệu nhiều kỳ về Điện Biên Phủ của nhà báo Jules Roy người Pháp. Hình ảnh người anh hùng Võ Nguyên Giáp với chiến công Điện Biên Phủ hiển hách của ông đến với tôi một cách đầy đủ, khách quan và sinh động. Tôi hằng ngày chờ báo từ Sài Gòn ra để mua đọc không sót một kỳ. Hào hứng chờ đợi còn hơn chờ đợi Tiếu Ngạo Giang Hồ đăng từng kỳ của Kim Dung. Càng đọc càng như được bay lên mây, lòng tự hào dân tộc dâng lên ngút ngàn. Quá sức yêu quý, tôi đã cắt các bài báo ấy ra lưu giữ cho đến ngày hôm nay.
Học lịch sử chỉ thấy Tây nó đánh cho ta te tua, từ Nguyễn Tri Phương đến Hoàng Diệu, từ phong trào Cần Vương đến Văn Thân. Rồi anh hùng chống Tây nào của Việt Nam cũng hầu như bị Tây bắt, Tây đày, Tây giết. Từ vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết đến Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Trương Công Định...từ Trần Cao Vân, Trần Quý Cáp đến Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh...
Bây giờ tự dưng xuất hiện một chiến công lừng lẫy, một đại tướng Việt Nam còn rất trẻ tuổi đã 55 ngày đêm làm cho cả vạn quân Pháp phải trốn chui trốn nhủi như những con chuột trong lòng chảo Điện Biên để rồi tất cả bị  tràn ngập, bị bắt sống, bị đầu hàng, trong đó có cả tướng chỉ huy của quân Pháp là De Catries. Một chiến công lừng lẫy hiển hách như vậy mà từ lâu nay tôi không hề biết, bây giờ mới được biết qua chính nhà báo của phe địch viết nữa mới vô cùng thú vị chứ. Mình tự viết về mình trong chiến công lừng lẫy ấy đã sướng rồi, mà địch viết về mình đọc càng sướng làm sao.
Từ đó Võ Nguyên Giáp trở thành thần tượng số một trong tôi, soán đi ngôi vị của Che Guevara và Fidel Castro vốn là thần tượng thời thượng của tôi cũng như của nhiều thanh niên lúc bấy giờ.
Vì ông là thần tượng nên tôi theo sát bước đi của ông. Sau 75, tôi đọc không sót một cuốn sách nào viết về ông và Điện Biên Phủ cũng như cố gắng đọc một số những gì ông nói hoặc viết ra sau nầy. Đọc về Điện Biên Phủ và về ông thì rất thích thú nhưng tôi lại không có chút thú vị nào khi đọc những gì ông viết hoặc nghe ông phát biểu tại các lễ lạc quan trọng mà ông được phát biểu. Tôi thấy những điều ông nói chẳng khác gì Lê Duẩn hoặc báo Nhân Dân. Rồi càng về sau, tôi dần dần càng lo lắng về ông. Qua các kỳ đại hội, qua các chức vụ ông được phân công, tôi lờ mờ hiểu ra rằng ông bị đẩy dần khỏi bộ máy quyền lực cấp cao. Tôi đau xót lắm và liên tưởng đến hình ảnh Nhạc Phi trong truyện Tàu, dường như đang tái hiện dần ra nơi ông.
Khoảng sau năm 1990 thì tôi gặp được thần tượng của tôi bằng xương bằng thịt.
Tôi nhớ dịp đó có một hội thảo rất lớn về Phan Chu Trinh tổ chức tại Đà Nẵng. Thành phần tham dự gồm những người rất tên tuổi như Gs Trần Quốc Vượng, nhà văn Nguyên Ngọc, Phó chủ tịch nước Nguyễn thị Bình, học giả Nguyễn Văn Xuân...và Đại tướng Võ Nguyên Giáp (*). Tôi lúc ấy chưa làm báo nhưng nhờ quen thân với cụ Nguyễn Văn Xuân nên cày cục cụ xin giấy mời. Vì hội thảo về Phan Chu Trinh và vì sự có mặt của Võ Nguyên Giáp, tôi đã xin nghỉ dạy hai ngày để tham dự.
Hồi ấy đang cao trào đổi mới nên có nhiều tham luận rất hay đề cao vai trò lịch sử và sự nghiệp của Phan Chu Trinh. Qua không khí hội nghị, tôi suy đoán rằng đây là hội thảo nhằm chính thức đánh giá lại cụ Phan. Và dường như mọi người trông chờ vào phát biểu sau cùng của đại tướng để khẳng định việc ấy. Tôi cũng rất trông mong. Thế nhưng đại tướng đã làm mọi người thất vọng. Không hề bị lung lạc bởi những học giả đổi mới, ông vẫn khuôn sáo và rất kiên định lập trường, phát biểu của ông không có một chút mới mẽ. Ông không đi ra khỏi tinh thần của nghị quyết đảng. Những điều ông nói về Phan Chu Trinh là những gì tôi đã nghe cả trăm lần qua những đợt học chính trị dành cho giáo viên. Ông vẫn nói y những gì mà Tố Hữu đã thay mặt đảng định hướng từ lâu: Phan Chu Trinh lạc lối trời Âu, đường lối cải lương...
Trong phát biểu của ông, ông thường xuyên nhắc đến Bác và Đảng, và nhắc đến với một thái độ hết sức tôn kính gây ra cho tôi một cảm giác là ông không thể nào có ý kiến gì khác những ý kiến của Bác và Đảng đã đề ra và đã thấm sâu vào trong ông tự bao giờ.
Lúc đó trong tôi bất chợt dâng lên suy nghĩ, ông bảo thủ và kiên định lập trường giai cấp còn hơn cả Lê Duẩn. Nếu ông mà được Hồ Chí Minh chọn làm tổng bí thư thay vì Lê Duẩn thì đất nước khó mong đổi mới. Bởi lẽ, Lê Duẩn đã không sống quá lâu như ông nên Trường Chinh mới có cơ hội lên thay và nền tảng cho việc cải cách đổi mới mới được đặt ra. Ngay hồi đó tôi bất chợt nghĩ vậy, nhưng bây giờ thì tôi không còn nghĩ như thế nữa vì lịch sử thì biện chứng và cũng rất bất ngờ, ai biết được ra sao...
Đó là lần tôi được gặp ông duy nhất. Kể từ đó tôi không còn gặp ông nữa dù sau nầy tôi trở thành phóng viên chính trị, theo dõi viết bài về quốc hội, chính phủ, không mấy khó khăn để được tiếp cận với ông.
Hôm nay thì ông vĩnh viễn ra đi, để lại đàng sau một hệ thống. Cái hệ thống mà ông là bậc khai quốc công thần, ông là vị tôi trung hiếm có. Một hàng người dài bất tận xếp hàng chờ vào viếng ông với sự thành kính tận đáy lòng. Những người ấy mến mộ công trạng của ông và cũng có thể kèm thêm lòng thương cảm vì những gì ông phải chịu đến cuối đời. Ông như một Nhạc Phi.
Nhà nước cũng quyết định làm quốc tang trọng thể cho ông.
Tôi chợt thấy khó hiểu, tại sao cả Nhạc Phi lẫn Tần Cối đều được hệ thống vinh danh như nhau?
 HNC
* Tôi dự hội thảo không phải với tư cách nhà báo nên tôi không ghi chép gì do vậy có thể thiếu sót hoặc nhầm lẫn về thành phần tham dự, mong lượng thứ.
(Nguồn: Huỳnh Ngọc Chênh)
-----------------------

Đại tướng và chữ Đao trong chữ Nhẫn.

Chữ Nhẫn gồm có chữ Tâm và chữ Đao. Chữ Đao đâm xuống trái tim. Tức là phải chịu đau đớn một mình... để cuộc đời trôi qua ...êm ả”?

Những ngày qua, tình cảm trong tôi diễn biến khá phức tạp. Chưa bao giờ, sự ra đi của một người, lại gây sóng gió trong lòng người Việt đến thế, bởi kẻ yêu người ghét có lẽ chẳng kém gì nhau. Dăm ngày qua, những hàng người xếp hàng vào nhà cụ Võ Nguyên Giáp, để viếng cụ vẫn kéo dài không dứt, cứ như thể thi hài cụ đang thực sự hiện diện ở đó. Ngày nào cũng thế, người ta xếp hàng từ sáng sớm, cho đến đêm khuya. Nếu lớp người có tuổi đến viếng đã đành, nhưng trong dòng người ấy có rất nhiều thanh thiếu niên, chỉ tầm tuổi cháu chắt của cụ, họ biết và hiểu gì về cụ?
Đã có lúc tôi nghĩ đơn giản đó chỉ là sự tò mò, hiếu kỳ. Mặc dù tôi cũng đến viếng cụ, nhưng tình cảm lúc đó chỉ như đi viếng mọi con người bình thường khác, khi họ ra đi về bên kia thế giới. Nghĩa là cũng xúc động, cũng rơi nước mắt. Cũng có người nói, không hẳn là có tình cảm gì đặc biệt lắm, nhưng đây là một cơ hội hiếm hoi, phải đến một lần vừa là để viếng, vừa là để thăm nơi con người được nhiều người cho là một huyền thoại, đã sống hơn nửa thế kỷ tại đây. Nói thế thôi chứ khó lý giải lắm trước những hiện tượng đó. Giải thích cách gì cũng là phiến diện.

Tôi đã định không viết gì, trước hết vì đôi lúc nói ra sự thật khá nguy hiểm. Nó không chỉ động chạm đến người đã khuất, mà đến cả những người còn đang sống. Chỉ vì chuyện yêu ghét, khen chê mà nhiều người đang là bạn bè lại quay lưng lại với nhau sau những cuộc tranh cãi gay gắt, hoặc biết là không thể tranh luận, nên chỉ thất vọng về nhau trong im lặng. Có người vốn chẳng bao giờ quan tâm đến mọi sự kiện, lại dửng dưng nhìn tất cả những chuyện ồn ào đó, bảo cả đất nước đang lên đồng yêu, lên đồng ghét, lôi chuyện cũ ra bới móc mà quên đi cái thực tại, như ở Văn Giang và Trịnh Nguyễn đang dầu sôi lửa bỏng chuyện nông dân giữ đất.
Tôi như kẻ ba phải, ngơ ngác đứng giữa những hỗn loạn thông tin, những quan điểm trái chiều, thấy ai cũng có lý của họ. Họ cãi nhau và không ai đặt được mình vào địa vị của người khác, kể cả của người vừa mới nằm xuống. Cứ gì cụ Giáp, bất cứ mỗi sự ra đi của một người nào có ảnh hưởng đến xã hội như 2 nạn nhân, trong vụ bắn cán bộ địa chính ở Thái Bình, cũng đều chia dư luận ra làm 2 phe. Nhiều khi người ta tán thành, đồng ý, nhưng lại kèm theo chữ “nhưng mà” phía sau. Đúng là chuyện đời không đơn giản chỉ là “Yes” or “No”, mà còn “But” hay “If” nữa!
Khi một người nằm xuống, đó không phải là thời điểm thích hợp để lôi quá khứ ra mổ xẻ. Nhưng vì cả cuộc đời cụ gắn liền với một chế độ, mà không ai thống kê ra được là có bao nhiêu người yêu, bao nhiêu người ghét, bao nhiêu người sung sướng, bao nhiêu người đau khổ vì nó, nhất là cụ lại ở một vị trí đặc biệt như vậy thì khó tránh khỏi chuyện mổ xẻ kia. Thôi thì cũng đừng ai bức xúc quá về những bức xúc của người khác. Hãy công bằng cho họ được yêu, được ghét đi.
Thế thì cũng cho tôi  bày tỏ chút ít. Những năm gần đây, tôi không còn thần tượng cụ Giáp như trước kia, không phải vì cụ nhẫn nhịn nhận cái chức trưởng ban sinh đẻ có kế hoạch, mà vì cụ không lên tiếng bảo vệ các tướng lĩnh khi họ bị thanh trừng. Tuy chỉ là dân thường, nhưng tôi luôn coi trọng cái nghĩa hơn cái tài. Thế nên, tôi rất buồn vì những thông tin thâm cung bí sử, có liên quan đến cuộc đời của cụ, mà chỉ vào thời đại internet mới được hé lộ, bởi những người tạm coi là người trong cuộc. Giờ đây, chỉ cần gõ vào google là ra rất nhiều bài viết về điều này. Có thể nó không hoàn toàn chính xác và khách quan, nhưng đáng tiếc là tôi lại tin vào điều đó.
Rất nhiều năm trước, đã có những xì xầm bàn tán, những bài viết truyền tay nhau trong xã hội, về những vụ “thanh trừng” người nào dám phản đối đường lối chính sách của đảng, mà họ cho là sai lầm.  Cho dù những người đó là bậc công thần cỡ nào như cụ Hoàng Minh Chính, cụ Trần Xuân Bách, cụ Nguyễn Mạnh Tường, cụ Trần Độ....Trong bối cảnh đó, cụ Giáp muốn tồn tại buộc phải “Nhẫn”?
Ít ra cho đến bây giờ, người đời vẫn có kẻ trách cụ nhẫn quá thành nhục. Sau này những người được cho là hãm hại cụ hoặc đã về bên kia thế giới, hoặc cũng đã “về vườn”, lớp lãnh đạo trẻ kế tục cũng không khá gì hơn. Bề ngoài họ vờ vĩnh kính trọng cụ, nhưng phớt lời mọi ý kiến đóng góp của cụ trước những vấn đề hệ trọng của đất nước.
Có ai nghĩ rằng, cái “Nhẫn”của cụ Giáp cũng là một sự hy sinh không?
Cái “Nhẫn” của cụ là để cho lịch sử thấy, cách đối xử của những người cộng sản với nhau như thế nào?
Ví dụ ngay bản thân tôi, chỉ là một kẻ vô danh tiểu tốt, cũng không thích chịu ơn của kẻ mình khinh bỉ. Thế nên họ đểu cáng tôi lại thấy thanh thản, vì đã không mắc nợ họ điều gì.
Nếu cụ Giáp cáo lão từ quan, để tỏ rõ khí phách anh hùng thì chuyện gì sẽ xảy ra? Chắc gì cả thiên hạ đã hoan nghênh cụ? Có khi lúc đó thiên hạ lại kết tội cụ là một người lính đào ngũ, bỏ trống trận địa cho gian thần bách hại công thần?
Hình như chưa một ai trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp nhất, lại thực sự về vườn một cách đúng nghĩa. Không  hẳn là vì họ tham quyền cố vị, mà có lẽ có một cơ chế nào đó, giống như vòng kim cô chẳng hạn, để họ khống chế lẫn nhau. Thế nên nếu cụ Giáp mà có ý từ quan thì đâu có dễ?
Vậy là cụ chịu nhẫn để ở lại với đời. Cụ như một tượng đài sống mà cả hai phía cùng muốn duy trì để lợi dụng. Một người bạn giải thích cho tôi, “Chữ Nhẫn gồm có chữ Tâm và chữ Đao. Chữ Đao đâm xuống trái tim. Tức là phải chịu đau đớn một mình... để cuộc đời trôi qua ...êm ả”. Tôi thích cách giải thích này.

Khôn ngoan không lại với giời, họ chơi xấu cụ thì thiên hạ mới thấy cái tâm địa xấu xa của họ được chứ? Ngay cái cách họ không nghe lời cụ, nhưng lại tỏ ra hiếu thảo với cụ đã tố cáo đó là trò hề. Bản thân họ cũng rối như gà mắc tóc, không biết xử trí thế nào ngay cả trước sự ra đi của cụ. Nào đâu cần họ đứng ra tổ chức Quốc tang, việc người dân tự nguyện đến viếng tại nhà cụ đã đủ làm họ ghen tức nổ ruột. Có ý kiến còn cho đó là sự phản kháng ngầm, có ý thách thức của dân chúng. Có lẽ nhìn khối người này, cũng lắm anh ngán lắm. May họ không dở cái bài cấm tụ tập đông người ở đây.
Thậm chí cho rằng dân chúng lên đồng đi, tôi vẫn dám chắc trong tất cả những người cộng sản, không có một ai được dân chúng tiễn đưa khi về bên kia thế giới như cụ Giáp. Đó mới chính là nỗi hận khó nuốt trôi của những người từng ganh ghét, hãm hại cụ. Buộc phải tổ chức Quốc tang, họ phải ngậm bò hòn làm ngọt. Thôi! Đó cũng là cách trả thù ngọt ngào rồi các bác ạ.
Mặc kệ ai tung hô, phong thánh. Mặc kệ ai chửi bới hay nguyền rủa, cụ ra núi Chùa đảo Yến nghỉ, cách xa mọi ồn ào của trần thế. Mấy ai ra đó được để mà quấy quả cụ. Người đời nay hay đời sau phán xét công hay tội thì cụ cũng đi xa rồi. Một trăm linh ba năm gánh gánh nặng cuộc đời, đã quá đủ với một con người rồi, phải không ạ.

Kính cụ về nơi yên giấc ngàn thu.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ ĐÁM TANG ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

No-U, thành phần bị nhà cầm quyền ngầm cho là phản động đi viếng đại tướng.
Hình ảnh

Hình ảnh: 11g30 hôm nay, 8/10, đoàn người xếp hàng vào viếng Đại tướng vẫn kéo dài tới cổng Bộ Ngoại giao. Dọc Điện Biên Phủ mình thấy mọi người xếp hàng đôi, và hình như tiến đến sát nhà 30 Hoàng Diệu thì đội ngũ giữ trật tự mới yêu cầu chuyển thành hàng một.

Nhân dân đi viếng đại tướng

Bà con Văn Giang lập bàn thờ đại tướng ngay trên mảnh đất đang bị cướp phá....
Xếp hàng dài tới tận vòng xuyến gần Lăng - trong những đêm viếng đại tướng


Trong khi dư luận tập trung vào tám tang đại tướng, công an tràn về Trịnh Nguyễn, bắt bớ những người dân phản đối xây nhà máy nước thải không hợp lòng dân.
Thôn xóm tràn ngập công an, náo loạn một vùng quê yên tình. 
Hình ảnh: Mọi người ơi, sự việc thì giống nhau nhưng bản chất không hẳn đã được hiểu giống nhau. Khi các cháu U19 bay ra HN đến được nhà Đại tướng đã muộn nên các cháu bảo nhau quỳ xuống viếng vọng Đại tướng để ra về. Nhìn thấy cảnh đấy gia đình Đạitướng đã xin phép BTC đặc cách cho các cháu vào. Gia đình không toàn quyền quyết định việc đóng - mở cổng đâu các bạn ạ.
U19 Việt Nam về muộn, khi đã hết thời hạn viếng thăm. Nhìn cảnh này, gia đình đại tướng đã phải can thiệp với Ban tổ chức cho các cháu vào viếng. Người dân dù không được vào, cũng hoàn toàn ủng hộ.

Theo một người đi viếng về nói: “Toàn bộ lực lượng an ninh đã vây kín nhà tướng Giáp vì... sợ BẠO LOẠN”. Có lý lắm khi đọc bài dưới đây.



http://news.zing.vn/Dam-tang-bien-thanh-dai-bieu-tinh-chong-chinh-phu-post325557.html

Nhưng không có lý vì họ chả hiểu gì dân ta cả.
(Nguyồn: Phương Bích) 
----------------------

Vĩnh biệt một thời đại

Tháng 10 7, 2013
Phạm Thị Hoài
Ông là đại diện cuối cùng của một thế hệ mà chúng ta chỉ còn gặp lại trên những trang hồi kí, Thế hệ Vàng của cuộc Cách mạng Giải phóng Dân tộc, trong sáng, lãng mạn, tràn đầy lí tưởng. Qua mỗi thế hệ đến sau, vàng dần biến thành đồng thau và thế hệ hiện đang lãnh đạo đất nước này trông không khác gì đất sét. Người ta thương tiếc ông như rỏ nước mắt cho những phẩm chất đẹp đẽ cũng theo ông về bên kia, để lại bên này một thế giới chân không về giá trị.
Ông là một trong hai nhà lãnh đạo Việt Nam tắm trong một hào quang quốc tế. Người kia đã khuất từ chính xác 44 năm trước. Trong cái bóng của ông, các chính khách đương thời của chúng ta trông không khác các vĩ nhân tỉnh lẻ. Gắn với tên ông, chế độ cộng sản ở đất nước này dường như dễ gây thiện cảm hơn, thậm chí lung linh hơn trong mắt thế giới. Hào quang ấy hẳn cũng đã giúp ông tránh được số phận của nhiều đồng chí và cộng sự thân thiết từng bị nuốt chửng trong chiếc hộp đen của quyền lực đỏ đến nay còn khép kín. Những ngày này, khi hào quang ấy cũng theo ông ra đi, người ta bám vào nó như vầng sáng cuối cùng hắt lại từ dĩ vãng.
Theo ông ra đi là thiên tài quân sự mà huyền thoại đã từ lâu bịt kín mọi ngả nhận thức khác. Thiên tài cầm quân của ông đồng hóa thành thiên tài chống ngoại xâm của Đảng Cộng sản, điều sẽ trở thành biện minh số một cho độc quyền thống trị vĩnh cửu của tập đoàn chính trị mà ông suốt đời trung thành này. Thành tích của vị “Napoléon Đỏ” đã đứng cao hơn núi máu xương chiến trường. Những ngày này hoài niệm đạn bom lên tiếng để hiện thực lặng im, rằng đất nước của vị tướng vĩ đại đã thắng trong chiến tranh và thua trong hòa bình. Gần nửa cuộc đời sau của ông là bằng chứng lặng lẽ của hiện thực ấy.
Theo ông ra đi là những hi vọng tìm một điểm tựa tầm cỡ khai quốc công thần cho một hành trình cứu quốc mới, đưa Việt Nam ra khỏi vòng tròn ma quái của nghèo hèn, lạc hậu, băng hoại, phụ thuộc, chuyên chế và hỗn loạn. Dù chỉ lên tiếng một số lần, có thể là quá thưa thớt và yếu ớt so với mong đợi, và không bao giờ chạm lằn ranh cho phép của thể chế, ông đã là một biểu tượng, một chỗ dựa tinh thần, một uy quyền đạo đức trong một khung cảnh thiếu vắng mọi điểm tựa. Dù chưa từng có một ảnh hưởng quyết định nào với nền chính trị Việt Nam và quá khiêm nhẫn để đột phá và cách tân, ông đã là một địa chỉ của hi vọng cải cách.
Theo ông ra đi là thời đại đã thành cổ điển của những đại tự sự giải phóng dân tộc, chống thực dân, chống đế quốc, chống phong kiến, cách mạng vô sản và chủ nghĩa cộng sản như nấc thang tiến hóa cuối cùng của nhân loại. Một thời đại đầy xung đột, lầm than, bạo lực. Một thời đại đầy ấu trĩ, cuồng tín, u mê. Song cũng đầy những vẻ đẹp của niềm tin giản dị và hùng tráng bởi những nhân cách và tầm vóc phi thường. Thời đại ấy đã cáo chung ngay khi ông còn sống. Bây giờ ông có thể cùng thời đại của mình yên nghỉ. Một cuộc đời dài có thể vắt qua hai thế kỉ, song không một vĩ nhân nào trong lịch sử đóng được dấu ấn lên hai thời đại kề nhau.
Kính cẩn vĩnh biệt ông. Vĩnh biệt một thời đại. Cầu cho thời đại hôm nay không còn cần đến những vị tướng và những chiến trường.
© 2013 pro&contra

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

Vị thế và vai trò của Việt Nam trên thế giới ngày càng được nâng cao

*MLC: Tối qua bản tin thời sự lúc 19h hàng ngày của VTV, "giành" gần như hầu hết thời lượng để phát bài phát biểu của ngài TT Nguyễn Tấn Dũng tại Phiên thảo luận cấp cao Khóa họp 68 Ðại hội đồng LHQ tại Hoa Kỳ từ ngày 26 đến 28-9. Mình khá ngạc nhiên khi đồng chí ấy thản nhiên một cách nghênh ngang  nói đến "nhân quyền" đến "tự do" đến "đói nghèo" đến nước này nước kia trên thế giới cứ như thể những thứ đó ở đâu đâu, ở một nơi nào đó trên thế giới... nghe mà choáng  và khâm phục ! thật khâm phục !
Không khâm phục sao được vì trình độ "chém gió" đạt tới dạng thượng thừa của ngài. Chém mà cứ như cả thế giới không hề biết vừa mới hôm trước ngài qua CH Pháp cậy cục nhờ vả ra sao. Không khâm phục sao được khi nền kinh tế VN do đích thân ngài dẫn dắt đang hấp hối, nhân quyền tự do trong nước bị vi phạm với hàng loạt vụ bắt giam, chờ xét xử như vụ LS Lê Quốc Quân và CP của ngài luôn nằm trong danh sách đen bị lên án vì "vi phạm nhân quyền" hay "kẻ thù của internet" của các tổ chức quốc tế như Human Rights Watch, CPJ, v.v ấy nhưng ngài vẫn cứ tỉnh bơ, thản nhiên vẻ bất cần lèo lèo nói cười rểnh rảng, để sau đó dàn đồng ca truyền thông lề đảng giật những cái tít "Vị thế và vai trò của Việt Nam trên thế giới ngày càng được nâng cao (*)" - Nhân dân-"Nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế"**-VOV-"Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò và vị thế trên thế giới"***, QĐND...
Để xem thực hư cái vai trò và vị thế của VN như thế nào, "được nâng cao" như thế nào trên thế giới thì hãy ghé mắt qua mấy hãng truyền thông thế giới như CNN, BBC. Không một phút hình nào của ngài thủ tướng đáng kính của VN xuất hiện trên những kênh truyền hình, không một dòng tin nào trên các website của họ. Chỉ duy nhất có bản tin của BBC tiếng Việt giật tít "Thông điệp của Thủ tướng Dũng tại LHQ" nhưng nên nhớ kênh này cũng chủ yếu dùng cho người Việt là chính.
Sử dụng công cụ tìm kiếm Google với từ "Prime Minister Nguyen Tan Dung in General Debate of the 68th Session hoặc Prime Minister Nguyen Tan Dung in 68 th UN meeting" đều ra kết quả
About 54,700 result (0.39 seconds) nhưng lại là những kết quả từ các trang VOV, Nhandan, dangcongsan v.v dưới phiên bản...Tiếng Anh.
À té ra cái Phiên thảo luận cấp cao ấy ai tới chả ăn tục nói phét, chém gió thoải mái được. Mặt khác LHQ gồm hàng trăm nước, chỉ có những nước có vị thế "như thế nào" mới được truyền thông quốc tế quan tâm như Mỹ, Đức, Nga, v.v hay tình hình nóng bỏng tại Syria hoặc diễn biến mới nhất về quan hệ giữa Mỹ-IRAN.
"Phát biểu tại Đại hội đồng LHQ, Thủ tướng VN nói tới nguy cơ xung đột và thậm chí chiến tranh ở Biển Đông và bán đảo Triều Tiên."- Ảnh nguồn BBC

Phải chăng biết vậy nên ngài TT của chúng ta cứ thoải mái chém gió mà không sợ ai bắt bẻ, ném đá? rồi sau đó các phương tiện truyền thông nô lệ trong nước phát sóng, viết bài ca ngợi để ...lấy le với nhân dân trong nước?
*http://nhandan.com.vn/chinhtri/tin-tuc-su-kien/item/21319902-v%E1%BB%8B-th%E1%BA%BF-v%C3%A0-vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-vi%E1%BB%87t-nam-tr%C3%AAn-th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi-ng%C3%A0y-c%C3%A0ng-%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c-n%C3%A2ng-cao.html
**http://vov.vn/Chinh-tri/Nang-cao-vi-tri-va-uy-tin-Viet-Nam-tren-truong-quoc-te/282999.vov
***http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/10/50/50/265137/Default.aspx

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013

Hai tờ báo Quân đội nhân dân và Nhân Dân trên mặt trận chống diễn biến hòa bình

Kinh hoàng phát ngôn bá đạo của những tờ báo có tên Nhân Dân. 

(Nguồn: Người Buôn Gió)

Dường như cuộc chiến trên mặt trận tư tưởng của các tờ báo này đã vào chỗ bế tắc, khủng hoảng bởi thực tiễn không minh họa được cho lời lẽ của họ.

Tờ báo QĐND đưa ra bài viết có nhan đề

Ba lần Bác cười trước lúc đi xa.

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/242/242/242/101538/Default.aspx

Bài viết miêu tả chi tiết và sống động chủ tịch HCM kinh yêu trước lúc từ trần theo lời kể của y tá Trung Quốc Vương Tinh Minh có đoạn.

Chiều hôm đó sức khỏe của Bác đã có chuyển biến tốt lên một chút, Bác nói muốn nghe một câu hát Trung Quốc. Các đồng chí đề nghị tôi hát. Tôi nói thật là hát cũng không tốt lắm, nhưng để vui lòng Bác, vì tình hữu nghị Trung-Việt, tôi đã hát một bài hát mà nhiều người thuộc và hát được, bài hát có nội dung chính là ra khơi xa phải vững tay chèo. Bác nghe xong rất vui, Bác nở nụ cười hiền từ. Bác nắm nhẹ tay tôi, tặng tôi một bông hoa biểu thị cảm ơn. Đó là lần thứ ba tôi thấy Bác cười. Và đó cũng là nụ cười cuối cùng của Người.

 Nếu đây là sự thật, thì sự thật này khiến nhiều người dân Việt phải ngỡ ngàng, hoang mang. Có lẽ nào nhạc sĩ Trần Hoàn là một tên nói phét, hoặc là một kẻ  lợi dụng mong muốn nghe hát của Bác để xuyên tạc sai lệch, nhằm kích động chiến tranh. Bài hát của nhạc sĩ Trần Hoàn có tên

Lời bác dặn trước lúc đi xa.

http://tainhaccho.vn/loi-bai-hat/tran-hoan/bnl/loi-bac-dan-truoc-luc-di-xa.htm

Bài hát như một câu chuyện kể rất cảm động, rằng trước lúc đi HCM muốn nghe câu hò Huế, bởi vì nước non chia cắt, Huế ở miền Nam. Rồi bác nhớ làng Sen quê mình, rồi bác nghe quan họ '' người ở ngưởi ở đừng về ''...rồi bác nghe câu hát dặm.

Bài hát của Trần Hoàn đã khắc sâu trong tâm trí của bao người Việt về một hình ảnh lãnh tụ HCM thân thương tha thiết với dân tộc, đất nước. Đến lúc cuối đời còn chỉ còn muốn nghe những làn điệu đầy bản sắc quê hương như hò, ví dặm, quan họ.

Thế nhưng báo QĐND dựa vào lời kể của một y tá Trung Quốc đã đưa lên thành một bài viết đi ngược 180 độ với những gì mà Trần Hoàn đã khắc sâu trong tâm trí nhân dân Việt Nam về hình ảnh của Người.

Bài viết của báo QĐND  đã nói rằng, bác chỉ muốn nghe câu hát Trung Quốc thôi. Không hề có một dòng nào của bài báo nói về những giây phút cuối đời HCM nhắc nhở gì đến nhân dân Việt Nam, đất nước Việt Nam cả. Chỉ có những hành động tình cảm với phía Trung Quốc như khi nghe giới thiệu y tá TQ, chủ tịch HCM nhìn y tá TQ với đôi mắt hiền từ, rồi nhắm lại tuôn lệ ( như là đang bồi hồi cảm xúc nghĩ lại điều gì rất tha thiết ? ).

Những lời kể của y tá Trung Quốc Vương Tinh Minh liệu có tin cậy được không.? Tại sao bây giờ mới kể khi các nhân chứng có mặt lúc đó đều đã chết như Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Lê Duẩn và người còn sống duy nhất lại đang ở trạng thái sinh học không còn nói gì được nữa là đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Một chi tiết nữa rất khó hiểu là theo lời kể của Vương Tinh Minh thì sức khỏe HCM đã hôn mê, tình lại chỉ lắc đầu yếu ớt ra hiệu. Nhưng sau khi nghe hát đã nắm tay Vương Tinh Minh và  tặng hoa rồi trút hơi thở. Tại sao người duyệt bài báo này không nghĩ rằng trong tình trạng nằm hấp hối chỉ còn giấy phút nữa lìa đời, chỉ ra hiệu bắng mắt và lắc đầu thì HCM lấy đâu ra sức để tặng Vương Tinh Minh hoa. Cho dù hoa có để bàn ngay đầu giường thì HCM cũng phải nhỏm dậy rút hoa từ trong lọ ra thì mới có hoa tặng được Vương Tinh Minh. Nếu HCM mà ngồi dậy, ngoái đầu, với tay rút hoa tặng thì hành động đó không hề phù hợp với người chỉ còn vài giây phút nữa lia đời, mới vài giây trước còn ra hiệu bằng ánh mắt hay cái lắc đầu.?

Có lẽ từ khi VN hợp tác toàn diện với TQ. Báo QĐND Việt Nam đã có những thay đổi khó lường, để học được bài học đấu tranh chống '' diễn biến hòa bình ''  của Trung Quốc. Những nhà làm tuyên truyền của báo QĐND đã tiếp thu hổ lốn tất cả những gì Trung Quốc nói, TQ viết. Báo QĐND hăng hái đi đầu như lính xung kích trên mặt trận tư tưởng để phê phán những tư tưởng chủ quan, ấu trĩ, lệch lạc của bọn phần tử phản động núp trong nhân dân. Báo QĐND lên án những thế lực phản động đang âm mưu hạ bệ thần tượng HCM trong lòng nhân dân ta.


Thế nhưng báo QĐND vì quá u mê hay cuồng tín vào ông thầy dạy môn '' đấu tranh chống diễn biến hòa bình'' mà đã đưa ra một bài viết cực kỳ tai hại, tác động xấu đến niềm tin nhân dân bấy lâu . Bài viết theo lời kể của y tá Trung Quốc là non kém về nghiệp vụ , không có cơ sở thẩm tra thế nhưng vẫn được tùy tiện đưa lên. Nhất là bài viết lại liên quan đến hình ảnh lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam.

Phải chăng chính báo QĐND đang làm những việc mà họ thường lên án người khác.?


Báo nhân dân.


Tờ báo Nhân Dân hôm nay 20/9/2013 có bài viết nhan đề

Tôn giáo chân chính đồng hành cùng dân tộc.

http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/binh-luan-phe-phan/item/21251502.html

Bài báo của tác giả Trần Chung Ngọc lên án những hãng truyền thông quốc tế đưa tin sai lệch về các vụ việc tôn giáo ở Việt Nam.

Không biết Trần Chung Ngọc uy tín cỡ nào mà khẳng định rằng những hãng truyền thông lớn quốc tế đưa tin sai, chỉ có ông ta là nói thật.?

Nhưng dẫu thế nào thì một điều nhận thấy được rõ, là các hãng truyền thông đưa tin về tôn giáo Việt Nam không bao giờ có bài xúc phạm, mạt sát tộn giáo hay nhân vật tôn giáo nào. Không hề có sự so sánh giữa hai tôn giáo khác nhau để dè bỉu, gây chia rẽ, kích động thì hằn nhau.

Trong bài báo của Trần Chung Ngọc thì trái lại những giọng điệu hằn học, bạo lực được lộ rõ không hề che đậy. Trình độ kém hay bản chất của tư tưởng Trần Chung Ngọc là vậy.?

Bài báo có đoạn.

'' Trong cuộc kháng chiến ở Việt Nam gần đây cũng vậy, nhiều tu sĩ bỏ áo cà sa đi theo kháng chiến, vì theo truyền thống yêu nước, xét đúng ưu tiên của thời thế, giặc đến nhà đàn bà phải đánh, nền độc lập của nước nhà trên hết, không như bọn Việt gian vô Tổ quốc, phi dân tộc, chủ trương "thà mất nước chứ chẳng thà mất Chúa"...

Đoạn viết này chắc hẳn những người theo đạo Công Giáo, những linh mục , giám mục và hồng y Thiên Chúa Giáo  hiểu ý đồ tác giả nói về '' bọn... vô tổ quốc, phi dân tộc'' là không những nói chỉ nói riêng về con người  mà tác giả Trần Chung Ngọc còn muốn đả phá cao hơn là về học thuyết, ý thức hệ, tư tưởng của đạo Thiên Chúa. Một sự xúc phạm thật nặng nề đến tôn giáo, sở dĩ gọi là nặng nề vì không phải nó động đến hành động nhất thời của một tổ chức tôn giáo . Mà nó động hẳn đến chủ thuyết, tư tưởng thần học của tôn giáo ấy.

Phát ngôn táo bạo hay phát ngôn bá đạo.

Một tờ báo lấy tên Nhân Dân, lại cho đăng bài của một kẻ xưng là Việt Kiều Mỹ , xúc phạm niềm tin của  gần chục triệu nhân dân ( tín đồ Thiên Chúa Giáo ở Việt Nam xấp xỉ 10 triệu người.). Cuộc kháng chiến chống Pháp đã xa xôi như vậy rồi, mà sự thù nghịch đến nay vẫn còn hiện rõ. Vẫn được báo Nhân Dân lên án.....vậy thì mấy triệu người miền Nam di tản hồi 1975 khi đọc được bài viết của Trân Chung Ngọc, trên báo Nhân Dân hôm nay liệu có tin được vào đoàn kết, tha thứ, hòa giải , yêu thương mà nhà nước Việt Nam đang kêu gọi  không.?

 Trần Chung Ngọc lộ rõ ý đồ gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc , chia rẽ tôn giáo khi so sánh hình ảnh người Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo. Sau khi vạch tội Thiên Chúa Giáo là Việt Gian, phi dân tộc, tổ quốc, chịu mất nước chẳng thà mất Chúa....đến lượt kể công lao của tu si Phật Giáo. Thậm chí quá đà ca ngợi tinh thần chiến đấu của các tu sĩ Phật Giáo , bài báo có đoạn.

'' Thậm chí còn vui lòng dấn thân vào cuộc, kể cả xông pha trận mạc chém giết quân thù, giữ gìn cuộc sống thanh bình cho dân tộc''

Học thuyết của Phật Giáo có cho chém giết quân thù để bảo vệ mình không.? Cái này dường như chưa ai dám khẳng định rằng học thuyết nhà Phật cho phép chủ động xông pha trận mạc chém giết quân thù. Nhưng cứ tạm gác điều đó lại, cứ cho rằng học thuyết nhà Phật cho phép hay ngầm cho phép chém giết quân thù như ý của Việt Kiều Trần Trung Ngọc đi chăng nữa.

Thì chả lẽ một tờ báo lớn toàn tiến sĩ, thạc sĩ , giáo sư, phó giáo sư lý luận không biết được cách sửa từ '' chém giết '' bằng từ nào khác trong kho tiếng Việt phong phú của Việt Nam. Ví dụ như sửa thành '' xông pha trận mạc chiến đấu với quân thù '' . Nghe có phải hay hơn từ '' chém giết '' rất bá đạo đối với người tu hành.

Một bài viết lủng củng, ý tứ đối nghịch nhau, loạn ngôn, giọng điệu hằn học chia rẽ tôn giáo, kích động hận thù  của Trần Trung Ngọc lại được báo Nhân Dân đưa lên. Chả lẽ không còn ai viết được hơn nữa sao.?

Hay báo Nhân Dân cũng như báo Quân Đội Nhân Dân cũng đang tự làm những điều mà họ hay phê phán các thế lực thù địch là chia rẽ dân tộc, kích động hằn thù, gây mất đoàn kết khối đại dân tộc.

Đến lúc phải dùng loại y tá Trung Quốc để nói về lãnh tụ nước mình, dùng Việt kiều ( gian) để nói về nội tình tôn giáo trong nước..có lẽ các tờ báo có tên Nhân Dân đã chẳng còn nhân dân nào trong đó nữa rồi.

5 nhận xét:

  1. Bác sáng ngời, Bác cao cả, Bác kính yêu của nhiều triệu thần dân, Bác đã hùng hồn chứng minh mãnh lực vô biên và bao la của bướm ... trước khi Bác tịt thở.

    Nhà báo đã thiếu sót, quên tả cảnh Bác bụp y tá lần cuối cùng của đời Bác. Lâm ly lọa.
    Trả lời
  2. KINH HOANG!
    VAY Ho Chi Minh DUNG LA TAU KHUA duoc cai vao VN?
    Trả lời
  3. Từ trước tới nay ai cũng biết (qua báo chí , các tác phẩm âm nhạc (TH) ) lúc HCM sắp "đi xa" muốn nghe một làn điệu dân ca , một câu hò vĩ dặm và một cô y tá đã hát cho HCM nghe , nghe hát xong HCM ra đi. Hôm nay trên báo QĐND đã "tiết lộ" rằng tất cả những điều tuyên truyền bấy lâu nay vẫn về những giây phút cuối cùng của HCM là láo toét ,dối trá. Còn biết bao sự thật mà dân tộc VN bị lừa phỉnh, mê hoặc ??. Hoan hô báo QĐND !!
    Trả lời
  4. Tết Mậu Thân quân đội theo lệnh của Cụ chôn sống hàng nghàn đồng bào Huế, Không có lẽ gì trước lúc người ra đi lại muốn nghe 1 câu hò xứ huế cả. Cụ và tên nhạc sĩ đó chỉ giỏi lừa thiên hạ thôi. Hôm nay báo QDND đã vạch rõ bộ mặt đó.
    Trả lời
  5. Còn đâu nữa minh gió trong những tờ báo mang tên nhân dân đó nữa mà chỉ còn là gió "gọi dạ-bảo vâng".
    Trả lời
     
    -------------
    Đề phòng trường hợp nào đó mà hai tờ báo  Quân đội Nhân rân và Nhân rân gỡ đường link bài Người Buôn Gió đưa, Mõ tôi copy file nguồn về đây lưu trữ để tham khảo

    Báo Xuân Canh Dần - 2010
    Ba lần Bác cười trước lúc đi xa
    QĐND - Thứ Hai, 25/01/2010, 20:33 (GMT+7)
    “...Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã rời xa chúng ta, nhưng hình ảnh ba lần nhìn thấy nụ cười hiền hậu của Người mãi khắc sâu trong tôi. Sự nhẹ nhàng thanh thoát, những ngôn ngữ, cử chỉ thân thiết của Người, tôi luôn mang theo suốt cuộc đời...”.
    Là y tá trưởng của Bệnh viện Bắc Kinh, từ những năm 60 của thế kỉ trước, tôi làm công tác chăm sóc sức khỏe bên cạnh Thủ tướng Chu Ân Lai. Tiếp nhận chỉ thị của Thủ tướng Chu Ân Lai, tôi được phân công vào đội ngũ chăm sóc sức khỏe Chủ tịch Hồ Chí Minh. 
    Ngày 24-8-1969, trời Bắc Kinh oi nồng, không một chút gió. Đêm xuống, tôi giội ào một cái cho mát, chuẩn bị lên giường đi ngủ. Đột nhiên nghe tiếng gõ cửa dồn dập. Tôi vội dậy mở cửa. Thì ra là người của bệnh viện tới, nói rằng: “Có việc khẩn, lập tức lên đường”.
    Chủ tịch Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai đón Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người cùng Đoàn đại biểu Việt Nam thăm Trung Quốc năm 1955. Ảnh tư liệu.
    Khi chúng tôi tới Đại lễ đường nhân dân, Thủ tướng Chu Ân Lai đang nói chuyện với các bác sĩ trong tổ công tác. Lúc này tôi mới rõ, chuyến đi của tôi là tới Việt Nam chữa bệnh cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đoàn có giáo sư Lí Băng Kì, chuyên gia Khoa truyền nhiễm Bệnh viện Hiệp Hòa Bắc Kinh. Thủ tướng Chu Ân Lai dặn dò yêu cầu chăm sóc chu đáo sức khỏe Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông cũng nhắc nhở mọi người quan tâm tới sức khỏe của các giáo sư cao tuổi trong đoàn. Sau khi tiếp kiến Thủ tướng Chu Ân Lai, tôi lên xe tới thẳng sân bay, chuyên cơ IL-18 đã chuẩn bị sẵn và rời Bắc Kinh đi Hà Nội ngay trong đêm.
    Bác cười và nói: “Xin hoan nghênh, cảm ơn!”
    Rạng sáng ngày 25-8 chúng tôi tới Hà Nội. Dưới ánh đèn mờ, vẫn có thể nhìn thấy cảnh tàn phá của bom Mỹ. Máy bay trực thăng của Việt Nam đưa chúng tôi tới Phủ Chủ tịch.
    Ngày thứ hai ở Hà Nội, tức ngày 26-8, tổ y tế thứ ba của Trung Quốc cũng tới Hà Nội. Các thành viên trong tổ chữa trị đến từ các bệnh viện lớn của Bắc Kinh, Quảng Châu, trong đó có một số chuyên gia Trung y nổi tiếng Trung Quốc: Nhạc Mỹ Trung, Tôn Chấn Hoàn, Trương Hiếu, Lí Băng Kì, Cao Nhật Tân.
    Căn phòng nơi Bác nằm trị bệnh rất đơn sơ. Diện tích không quá 20 mét vuông, trang bị cũng giản dị. Khuôn mặt Bác xương gầy. Bác đang nằm trên giường bệnh. Đây là lần đầu tiên tôi được đứng gần Bác, tâm lí không khỏi căng thẳng. Tổ trưởng tổ chữa trị Trương Hiếu chỉ vào tôi và giới thiệu với Bác: "Cô ấy là y tá trưởng Bệnh viện Bắc Kinh, tên là Vương Tinh Minh". Bác nhìn và nhẹ nhàng nắm tay tôi. Bác mỉm cười nói: "Xin hoan nghênh, cảm ơn!". Bác nhìn tôi, ánh mắt hiền từ, tôi vô cùng cảm động, hai hàng lệ đã trào mi chẳng biết tự khi nào.
    Bác cười thay lời cảm tạ các y tá, bác sĩ
    Chủ tịch Mao Trạch Đông, Thủ tướng Chu Ân Lai và các nhà lãnh đạo khác của Trung Quốc hết sức quan tâm tới sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đích thân Thủ tướng lựa chọn những nhân viên ưu tú nhất, thậm chí từng thùng thuốc gửi cho Bác và ân cần hỏi han, kiểm tra, dặn đi dặn lại không được sơ sảy.
    Bác Hồ và đồng chí Chu Đức tại Trung Quốc cuối tháng 1-1950. Ảnh tư liệu.
    Tình hình sức khỏe của Bác ngày càng xấu. Ngày 31-8-1969, Thủ tướng Chu Ân Lai nhận tin, sức khỏe của Bác đã rất xấu. Chuyên gia nổi tiếng Ngô Giai Bình được phái đến Việt Nam, nắm tình hình cụ thể sức khỏe của Bác, lập tức về trong ngày để báo cáo với Thủ tướng Chu Ân Lai. Nhận chỉ thị của Thủ tướng Chu Ân Lai, chuyên gia Ngô Giai Bình cùng những người trong tổ cứu chữa ra đi với tinh thần cao nhất, quyết tâm chuyển "nguy" thành "an". Sau khi đã phái tổ y tế thứ ba tới Hà Nội, tiếp tục tổ y tế thứ tư được phái tới Hà Nội (tổ thứ tư tới nơi thì Bác đã ra đi).
    Lúc này bệnh tình của Bác ngày càng nặng. Ăn ít, uống ít, cơ thể càng thêm gầy. Các chuyên gia, bác sĩ sau quá trình nghiên cứu thận trọng, tỉ mỉ đã quyết định truyền tĩnh mạch để khống chế nhiễm trùng, bổ sung dinh dưỡng và nước. Nhưng vấn đề đặt ra là cơ thể của Bác rất nhạy cảm với tiêm, vì vậy khó thực hiện. Chúng tôi đã đặt ra một phương án thực thi để phân tán sự tập trung chú ý của Bác. Khi nhận được sự đồng ý của Bác, cũng như sự cho phép của các đồng chí lãnh đạo Việt Nam, chúng tôi đã tiến hành truyền tĩnh mạch. Hôm đó, nhiều đồng chí lãnh đạo của Việt Nam như Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp... đã có mặt. Việc đưa mũi kim truyền vào tĩnh mạch được tiến hành thuận lợi. Bác mỉm cười thay lời cảm tạ các y tá, bác sĩ.
    Bác mỉm cười sau khúc hát của tôi
    Ngày 31-8-1969, bệnh tình của Bác đột nhiên tăng lên. Hôn mê không tỉnh. Các chuyên gia bình tĩnh, kịp thời đưa ra biện pháp cấp cứu phù hợp. Bác sĩ Hồ Húc Đông xuyên kim vào tim Bác để bơm thuốc trợ lực tim. Thành công rồi! Chủ tịch Hồ Chí Minh từ từ tỉnh lại, Bác mở mắt ra, nhìn khắp một lượt các y, bác sĩ trong phòng. Mọi người cảm động không nói nên lời. Tổ trưởng Trương Hiếu lại gần bên Bác, khẽ gọi: "Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, Người thấy trong mình hiện giờ thế nào? Còn chỗ nào chưa thấy thoải mái?". Bác khẽ lắc đầu, một lúc sau Bác ra hiệu muốn ăn một chút.
    Chiều hôm đó sức khỏe của Bác đã có chuyển biến tốt lên một chút, Bác nói muốn nghe một câu hát Trung Quốc. Các đồng chí đề nghị tôi hát. Tôi nói thật là hát cũng không tốt lắm, nhưng để vui lòng Bác, vì tình hữu nghị Trung-Việt, tôi đã hát một bài hát mà nhiều người thuộc và hát được, bài hát có nội dung chính là ra khơi xa phải vững tay chèo. Bác nghe xong rất vui, Bác nở nụ cười hiền từ. Bác nắm nhẹ tay tôi, tặng tôi một bông hoa biểu thị cảm ơn. Đó là lần thứ ba tôi thấy Bác cười. Và đó cũng là nụ cười cuối cùng của Người.
    Sáng ngày 2-9-1969, trái tim Chủ tịch Hồ Chí Minh ngừng đập. Người đã vĩnh viễn đi xa. Chúng tôi không cầm được nỗi buồn, nước mắt tuôn trào. Đứng bên giường bệnh của Người, vô cùng buồn thương… và từ biệt Người. Ngày 9-9-1969, toàn bộ tổ chữa trị đã cùng lãnh đạo và nhân dân Việt Nam tham gia lễ truy điệu được cử hành tại Hội trường Ba Đình. Hai ngày sau chúng tôi rời Hà Nội về nước. Để ghi nhận công lao của các bác sĩ, y tá trong các tổ y tế đã tham gia chữa trị cho Bác Hồ, Chính phủ Việt Nam đã tặng nhiều huân chương cao quý cho thành viên trong tổ y tế.
    * Vương Tinh Minh, y tá trưởng Bệnh viện Bắc Kinh, thành viên Tổ bác sĩ Trung Quốc sang Việt Nam chữa bệnh cho Bác Hồ, tháng 8-1969.
    NGUYỄN HÒA biên dịch 
    ------------------------------- 
    Tôn giáo chân chính đồng hành cùng dân tộc 
    (Nguồn: Nhân rân)
    Thứ sáu, 20/09/2013 - 01:58 AM (GMT+7)
    [+] Cỡ chữ: Mặc định
    Gần đây, các hãng truyền thông nước ngoài, như BBC, VOA, RFA, RFI thường sử dụng quan điểm tiêu cực để đánh giá các sự kiện xảy ra ở Việt Nam hoặc liên quan tới Việt Nam, từ đó xuyên tạc, cổ vũ cho luận điệu sai trái, nhân danh "thảo luận" tạo diễn đàn để một số cá nhân bình luận thiếu thiện chí. Bài Ni cô "thay nâu sồng mặc quân phục" trên BBC ngày 14-8 là thí dụ điển hình của xu hướng không lành mạnh này. Tác giả Trần Chung Ngọc, một người Mỹ gốc Việt, có bài viết vạch rõ "sự bất lương của BBC tiếng Việt", Báo Nhân Dân xin trích giới thiệu cùng bạn đọc.
    Thỉnh thoảng tôi vẫn ghé vào đọc lướt qua VOA, BBC, RFA, RFI tiếng Việt. Không phải để học hỏi những gì họ viết trong đó mà chỉ để biết những luận điệu của họ như thế nào để chống phá Việt Nam, phục vụ cho đường lối chỉ đạo của các quốc gia liên hệ, chứ tôi đã biết từ lâu những tổ chức này không phải là những cơ quan thông tin vô tư. Thí dụ về RFA. Trần Ðình Hoàng có viết trên chuyenluan.net ngày 12-6-2007 bài Ðài RFA tuyên truyền chống Việt Nam. Ðây là bài nghiên cứu đầy đủ với nhiều chi tiết về thực chất, mục đích của RFA, và đây là phần kết: "Bài viết này muốn nhắc nhở những người nào còn lầm tưởng RFA đấu tranh cho quyền lợi của người Việt rằng: RFA là một tổ chức phục vụ cho quyền lợi của Mỹ và do một nhóm người Việt lưu vong điều hành nhằm làm suy yếu sự đoàn kết dân tộc của Việt Nam và gây bất ổn chính trị xã hội ở Việt Nam để người nước ngoài có cơ hội "thừa nước đục thả câu". Những người ở trong nước đã và đang cộng tác với họ hoặc do bị lừa gạt hoặc tự nguyện cần ý thức được rằng RFA chưa bao giờ khách quan, chưa bao giờ có thiện chí với Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Do đó, cộng tác với họ cũng đồng nghĩa với việc hợp tác với những người chống lại quyền lợi của Việt Nam". Nhận định này cũng đúng với BBC, VOA, RFI tiếng Việt. Gần đây tôi ghé vào BBC thấy có một bài ngồ ngộ với đầu đề Ni cô "thay nâu sồng mặc quân phục" (đăng thứ tư, ngày 14-8-2013).
    Chỉ với cái đầu đề chúng ta có thể thấy sự bất lương của BBC tiếng Việt. Vì đây chỉ là một màn trình diễn văn nghệ, chứ không phải là ni cô vĩnh viễn "thay nâu sồng mặc quân phục". Nếu lương thiện thì đầu đề của bài viết phải là "ni cô mặc quân phục trình diễn văn nghệ".
    Từ xưa tới nay Phật giáo ở Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc. Khi thực dân Pháp xâm lăng và dưới thời Pháp thuộc, nhiều chùa đã trở thành nơi nuôi giấu, bảo vệ những người yêu nước chống Pháp. Trong cuộc kháng chiến ở Việt Nam gần đây cũng vậy, nhiều tu sĩ bỏ áo cà sa đi theo kháng chiến, vì theo truyền thống yêu nước, xét đúng ưu tiên của thời thế, giặc đến nhà đàn bà phải đánh, nền độc lập của nước nhà trên hết, không như bọn Việt gian vô Tổ quốc, phi dân tộc, chủ trương "thà mất nước chứ chẳng thà mất Chúa". Cho nên, nếu ni cô có "cởi áo nâu sồng mặc quân phục" như các tu sĩ "cởi áo cà sa khoác chiến bào" cũng đâu có phải là chuyện lạ. Lịch sử Việt Nam viết rõ, trong những cuộc chiến chống ngoại xâm, các chùa thường là nơi che giấu quân kháng chiến, và nhiều tăng, ni đã: "Nghe theo tiếng gọi của núi sông - Cà sa gửi lại chốn thư phòng...".
    Lịch sử đã chứng tỏ truyền thống yêu nước, hộ quốc, an dân của Phật giáo. Thiên hạ Lý Trần bán vi Tăng (Nửa thiên hạ Lý - Trần sống như là các tu sĩ Phật giáo) nhưng thời đại Lý - Trần cũng là thời đại oanh liệt nhất của Việt Nam, ba lần đánh bại quân xâm lược hùng mạnh nhất vào thời đó. Tăng sĩ Phật giáo "cởi áo cà sa khoác chiến bào", tham gia chống xâm lăng không phải là chuyện hiếm hoi, trong thời nào cũng có. Khi xưa thì Tuệ Trung Thượng sĩ, anh của Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm, thời bình thì tu ở chùa, thời chiến thì khoác chiến bào chống xâm lăng, cùng Ðức Trần Hưng Ðạo lập được nhiều chiến công, đuổi xong ngoại xâm rồi lại trở về chùa sống ung dung tự tại; vua Trần Nhân Tông cũng vậy, sau khi chiến thắng Nguyên Mông, bỏ ngôi báu xuất gia làm Trúc Lâm đầu đà.
    Trong hai cuộc chiến chống xâm lăng vừa qua, Phật giáo luôn luôn gắn liền với tinh thần yêu nước, nhiều tăng ni Việt Nam đã cởi áo cà sa, nâu sồng, mặc quân phục lên đường chiến đấu chống ngoại xâm. Vậy thì màn trình diễn văn nghệ của các ni cô chẳng qua cũng chỉ là diễn lại sự hy sinh đóng góp cho quốc gia của tăng ni Phật giáo trong thời chiến, khích lệ lòng yêu nước của quần chúng, có gì mà phải thắc mắc. Chúng ta hãy đọc một đoạn trên http://e207.net.vn: "Năm 1999, nhân kỷ niệm 52 năm Ngày truyền thống "Nghĩa sĩ phật tử" (27-2-1947), một nhóm ni sư từng phát nguyện "Cởi áo cà sa khoác chiến bào" đã cho lập một bia đá ngay trong khuôn viên chùa để ghi nhớ sự kiện đó. Nhà chùa cũng đã cho xây dựng Ðài tưởng niệm các Nghĩa sĩ Phật tử hy sinh trong thời kỳ chiến tranh. Thể theo tâm nguyện cá nhân, xương cốt của năm vị đã được quy tập, an táng trong vườn tháp của chùa. Ðây cũng là nơi mà bất cứ phật tử, du khách nào cũng muốn ghé thăm mỗi khi có dịp để nghiêng mình tưởng nhớ tới những vị sư "Nhập thế ra trận" năm xưa".
    Ni cô mặc quân phục, mặc áo tứ thân trình diễn văn nghệ chẳng qua chỉ là thể hiện nét văn hóa của dân tộc: quân phục tượng trưng cho sự hào hùng của nữ nhân Việt Nam trước nghịch cảnh của thời thế, tiếp nối tinh thần Bà Trưng, Bà Triệu, còn áo tứ thân nói lên nét duyên dáng của phái nữ Việt Nam. Phật giáo nên hãnh diện về những đóng góp này, thay vì chấp vào những hình thức bề ngoài chỉ có tính cách tượng trưng trong một màn trình diễn văn nghệ, và nên bỏ ngoài tai những lời phê bình nọ kia của những kẻ thiếu hiểu biết về truyền thống văn hóa dân tộc và về tinh thần "tùy duyên bất biến" của Phật giáo. Nếu những người thiếu hiểu biết về Phật giáo còn thắc mắc về chuyện các ni cô mặc quân phục thì tôi khuyên họ hãy xem video clip Cởi áo cà sa khoác chiến bào đăng trên youtube.com. "Phật Pháp bất ly thế gian pháp", cho nên người Phật tử phải tùy duyên tùy thời thế mà hành xử. Tác giả Ðồng Ngọc Hoa viết: "Tu mà không xa rời trần tục, tu mà khi quốc gia có biến cố thì thiền sư, cư sĩ, tín đồ... đều quan tâm đến vận mệnh quốc gia, nghĩ đến sự hưng vong của chùa cảnh, xóm làng, đất nước. Thậm chí còn vui lòng dấn thân vào cuộc, kể cả xông pha trận mạc chém giết quân thù, giữ gìn cuộc sống thanh bình cho dân tộc". Chúng ta có thể đọc vài bài thơ nói lên tinh thần yêu nước của Phật giáo trước nghịch cảnh ngoại xâm: Cởi áo cà sa khoác chiến bào - Tuốt gươm bồng súng dẹp binh đao - Ra đi quyết rửa thù cứu nước - Vì nghĩa quên thân hiến máu đào - Cởi áo cà sa khoác chiến bào, - Giã từ thiền viện lướt binh đao - Câu kinh tiếng kệ chờ khi khác; - Cứu nước thương dân dễ đợi nào - Nghe theo tiếng gọi của núi sông - Cà sa gửi lại chốn thư phòng - Xông ra trận tuyến trừ hung bạo - Thực hiện từ bi lực phải hùng. Nhận thức được truyền thống Phật giáo yêu nước như vậy thì chúng ta phải thấy rằng, trong khối Phật giáo gồm hơn 80% số dân, nếu có những cá nhân, tăng cũng như tục, tham gia mặt trận Việt Minh, hay Ðảng Cộng sản, hay Mặt trận giải phóng miền Nam, hay phản chiến, trong bối cảnh lịch sử chống xâm lăng, đánh đuổi thực dân, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, thu giang sơn về một mối, thì đó cũng vì là vì lòng yêu nước, yêu dân tộc, là có chính nghĩa, là một điều vinh dự đáng khen. Ðiều rõ ràng là trong cuộc chiến chống Pháp, khi toàn dân kháng chiến thì phần lớn trong số đó theo Phật giáo và chắc chắn là cũng có không ít tín đồ Ca-tô giáo, vì Ca-tô giáo ở Việt Nam cũng chiếm từ 5% đến 7% dân chúng.
    Tôi thấy chuyện các ni cô mặc quân phục hay áo tứ thân để trình diễn văn nghệ chẳng có gì đến nỗi làm cho dư luận ồn ào như BBC đưa tin, hay "phản cảm" và "báng bổ Phật giáo" như có người vì thiếu hiểu biết về Phật giáo, cho nên phê phán như vậy. Tất cả những nhận định tiêu cực về chuyện này mà BBC tiếng Việt đưa lên đều phản ánh những tình cảm vô trí của một số người thiếu hiểu biết. Họ hiểu biết rất hời hợt về Phật giáo, chỉ nhìn thấy bề ngoài, không nắm được ý nghĩa đằng sau những màn trình diễn văn nghệ, không ý thức được triết lý Nhị đế của Phật giáo, họ cho rằng Phật giáo phải như thế này, thế nọ, theo quan điểm hẹp hòi của họ. Ðạo đức tôn giáo đâu có nằm trên mấy bộ quần áo. Tây phương cũng có câu "Tấm áo không làm nên thầy tu". Cho nên, đừng có vội vàng đánh giá dựa trên bề ngoài.
    Không nên thắc mắc và cảm thấy khó chịu trước những lời chỉ trích vô trí về cuộc trình diễn văn nghệ của các ni cô, và các ni cô nên cảm thấy mình đã có vinh dự được đóng góp nghệ thuật trong những màn trình diễn có nhiều ý nghĩa về lịch sử và văn hóa Việt Nam. Mong rằng Thượng tọa Thích Huệ Minh, Phó Ban Trị sự Phật giáo huyện Bình Chánh, hãy dũng cảm làm theo lời nhận định của mình về những màn trình diễn văn nghệ: "mô hình thật hay... cần phải mở rộng trong mùa An cư kiết hạ những năm sau". Và cũng mong rằng, Ni trưởng Thích Nữ Huệ Ngọc - Viện chủ chùa Pháp Hải, sẽ tiếp tục "vô cùng hoan hỷ" về "Ngày hội nữ tu" này, cũng như về những "Ngày hội nữ tu" trong tương lai, và bỏ đi sự phiền lòng trước những dư luận thiếu thiện chí.
     
    TRẦN CHUNG NGỌC