Thứ Tư, 15 tháng 1, 2014

Trần Dần và Tố Hữu

*MLC:  Loằng ngoằng thế nào hôm nay lại đọc được bài này, mặc dù bài được Nguyễn Văn Tuấn đăng từ 2008 nhưng Mõ Làng Chờ vẫn xin copy lại để làm kỷ niệm. Một kỷ niệm về lòng ngưỡng mộ những Trần Dần, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Lê Đạt, ...
Ở vế ngược lại Mõ tôi vẫn nhớ một kỷ niệm hồi học phổ thông đã từng rất giận ông anh rể do bất đồng chính kiến (ke ke) khi  dội gáo nước lạnh vào lòng say mê của một tín đồ thơ Tố Hữu đang bừng bừng là Mõ tui dư lày "thơ Tố Hữu toàn là thơ nịnh bợ, đấy không phải là thơ"... ôi kỷ niệm một thời mông muội với những món độc dược. Ôi nạn nhân và những tội đồ. 
Nếu Tố Hữu biết được có một tín đồ mê thơ của mình thời đó như Mõ tui đây chẳng hạn, chắc mặt sẽ ... vênh lắm. Nhưng may cho ông là sẽ không bao giờ ông còn biết được cảm nghĩ của tín đồ một thời của ông nữa...

(1). Đây là bài viết trên blog của Huy Đức tôi phải dán vào blog của mình kẻo mai kia mốt nọ anh ta “delete” nó thì uổng lắm. Tôi cũng thích thơ của Trần Dần. Tôi nghĩ -- chẳng biết có quá không -- những người thuộc thế hệ trước như Trần Dần, Hoàng Cầm, Văn Cao, Phạm Duy, Hữu Loan, Quang Dũng, v.v… tài quá. Những câu chữ có thể nói là xuất hồn, những nốt nhạc tuyệt vời mà tôi nghĩ văn học ta rất mà khó có một thế hệ sáng tạo như thế. Tôi vẫn nghĩ hoài không hiểu mấy ông cụ ấy lấy đâu toàn những câu chữ độc đáo mà người phàm như tôi không thể nào nghĩ ra! Tôi “ganh tị” với các cụ (vì các cụ lấy hết chữ nghĩa rồi)!
Làm thơ rất khó bởi vì ý tưởng chỉ cô đọng trong một vài chữ. Tôi xem mỗi câu thơ cũng là một công thức toán học. Công thức toán phải đẹp thì mới “sống lâu”. Tương tự, một vần thơ phải đẹp về ý tưởng và từ ngữ thì mới có khả năng lưu truyền lâu dài. Thơ Trần Dần là một trong những thể loại này.
Nhưng rất tiếc là nhà thơ trải qua một thời lao đao cho đến ngày chết. Những câu chuyện về Trần Dần và Tố Hữu thì tôi nghe và đọc cũng nhiều, nhưng chẳng biết hư thực ra sao. Thì đây bài này cũng có thể xem là một loại lưu truyền như thế …
NVT
(1). Nguồn: Nguyễn Văn Tuấn Blog
Minh họa của Trần Dần

Trần Dần & Tố Hữu
Tất nhiên, không ai tin việc tập thơ Trần Dần bị “niêm phong” chỉ vì vài cái lỗi về thủ tục. Nhưng thôi, đó cũng là một lối ra rất đỡ mất mặt. Dù sao, Thơ Trần Dần cũng đã bán rất chạy, ngay đến cậu con trai tôi, 15 tuổi, cũng tò mò.
Thơ ông đa nghĩa quá. Chỉ riêng một bài Nhất Định Thắng, tôi nghĩ, đã có thể vừa quy kết ông là một tên phản động cực kỳ nguy hiểm, vừa có thể ca ngợi ông như một người yêu nước nồng nàn. Không hiểu sao, cho tới nay, chưa thấy ai làm một bộ phim truyện dựa trên bài thơ ấy. Ta ở phố Sinh Từ... Một giai đoạn lịch sử buồn đau của đất nước hiện ra mồn một trong mỗi câu thơ của ông.
Khi Trần Dần viết bài thơ ấy, đất nước đang bị phân đôi, ở miền Bắc chiến tranh kết thúc. Nhưng, cuộc sống của người dân thì không có hòa bình. Trần Dần viết: Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc/Đất hôm nay tầm tã mưa phùn/Bỗng nhói ngang lưng/máu rỏ xuống bùn/Lưng tôi có tên nào chém trộm? Không hiểu, hình tượng “vết chém ngang lưng” ông viết ở đây là để nói về nỗi đau chia cắt tổ quốc hay chỉ đơn giản nói về cái không khí ngột ngạt ở miền Bắc, cái không khí mà đến 30 năm sau, Hữu Loan vẫn nhớ: “Thành viên nào (trong cộng đồng) cũng chứa toàn âm mưu đen tối để chủ hại người bên cạnh”.
Theo Hiệp định Geneve, người dân có một thời gian dài để chọn cho mình miền Nam hay miền Bắc. Nhưng lúc ấy, không có ai tự nguyện từ miền Nam chạy ra “Miền Bắc thiên đường của các con tôi”. Trong khi, hàng triệu người dân đã gồng gánh vào Nam để lại mồ mả ông bà trên đất Bắc. Thoạt đầu, có vẻ như Trần Dần trách móc, thậm chí ông đã buộc tội “những bạn đi Nam” là Thiếu quả tim bộ óc! Nhưng rồi quan sát kỹ hơn, ông buột hỏi: Họ vẫn ra đi/ - Nhưng sao bước rã rời?/Sao họ khóc?/ Họ có gì thất vọng?
Trong những ngày xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội ấy, tình hình Thế giới được “quán triệt” thành hai “phe” Xô- Mỹ. Nhưng cái “phe” mà ông quan tâm cũng “căng thẳng” vô cùng: Gặp em trong mưa/Em đi tìm việc/Mỗi ngày đi lại cúi đầu về/- Anh ạ!/ Họ vẫn bảo chờ... Ông nghĩ: Trăm cái bận hàng ngày nhay nhắt./Chúng ta vẫn làm ăn chiu chắt./Ta biết đâu bên Mỹ miếc tít mù/Chúng còn đương bày kế hại đời ta? Nhưng “cơm áo” không phải là những gì ngột ngạt nhất mà những người như ông đã từng nếm trải.
Theo tác giả của Màu Tím Hoa Sim, nhà thơ Hữu Loan: Trên thực tế, khi ấy, rất hiếm những bí thư, chủ nhiệm, thủ kho, cửa hàng trưởng tốt, phải nói hầu hết là ăn cắp, thi nhau để ăn cắp, nhưng văn học không được nói thực mà phải dựng lên toàn là những người lý tưởng. Các văn nghệ sỹ lúc ấy phải học tập những tài liệu hiện thực xã hội chủ nghĩa, từ Liên Xô đưa về, rồi tự Diên An (Trung Quốc) đưa sang. Nghĩa là văn nghệ chỉ được nói đến cái xã hội thiên đường vô cùng đẹp chưa có, chưa biết bao giờ mới có, chứ không được nói đến những cảnh trộm cướp áp bức bóc lột đang diễn ra trước mắt. Theo ông Hữu Loan: Khi một nhà báo hỏi: “Như vậy là Cách mạng đã cấm tự do ngôn luận?” Ông Trường Chinh sửng sốt: “Anh nói sao? Các anh được tha hồ tự do chửi đế quốc đó thôi.” Tố Hữu là một trong những nhà lãnh đạo hăng hái đưa “hiện thực XHCN” vào văn nghệ. Trong khi Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm… phản đối đường lối này. Những người phản đối sau đó, lần lượt dính vào một vụ án gọi là “Nhân Văn Giai Phẩm”.
Phong trào Giai phẩmNhân Văn bắt đầu khi hai nhà thơ Trần Dần, Lê Đạt phê phán tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu là “dòng thơ lục bát không có gì mới, nội dung vân vê kỷ niệm không lấy gì làm sâu sắc”. Trần Dần là người phê nặng lời nhất. Tuy nhiều người tán thành với nhận xét này nhưng tập thơ vẫn giành được giải nhất đầu năm 1956. Về sau, nhóm Nhân Văn còn viết nhiều bài được coi như là những “Thất Trảm Sớ”, đặc biệt, bài của Nguyễn Hữu Đang nói về thiết lập nhà nước Pháp quyền. Ngày nay, nếu đọc lại những bài viết của nhóm Nhân Văn, phải công nhận là nước ta đã từng có những nhà trí thức khả kính. Đất nước ra nông nỗi hiện nay là bởi lịch sử đã không chọn họ. Trần Hữu Đang bị tù 17 năm; Phùng Cung, tác giả truyện ngắn “Con ngựa già của chúa Trịnh”: 7 năm tù giam; Vũ Duy Lân (Bộ Nông lâm, bị nghi là cho Nguyễn Hữu Đang một áo len khi đang đi tù): bị giam 7 năm mới tha; Giám đốc Nhà xuất bản Minh Đức: 17 năm... Khi Hoàng Cầm cho in Nhất Định Thắng, Trần Dần bị mất chức và sau đó bị bắt giam. Nếu Trần Dần không dùng lưỡi lam rạch cổ, có lẽ thời gian “ở trong lao” của ông không chỉ là 3 tháng. Trong tình cảnh ấy, mấy câu thơ: Những ngày ấy bao nhiêu thương xót/Tôi bước đi/không thấy phố/không thấy nhà/Chỉ thấy mưa sa/ trên màu cờ đỏ… không hẳn là không mang ít nhiều ẩn dụ chính trị.
Cho dù phải sau khi Tố Hữu chết, các ông Hữu Loan, Trần Dần, Lê Đạt… mới được “chiêu tuyết”, vụ “Nhân Văn” không đơn giản chỉ là những vấn đề giữa các cá nhân với nhau. Một nhà nghiên cứu viết, ở thời điểm ấy, thay đổi là một quy luật. Người biết và sử dụng được quy luật thì thăng quyền tiến chức, như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi; người biết, nhưng chỉ né tránh thì tồn tại như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng; hay xa lánh như Nguyên Hồng. Người không biết, thì đành phải sa hầm sẩy hố… Kể ra thì, các bác ấy sống quá tử tế, làm thơ quá thơ, tính đa nghĩa trong thơ của các bác ấy thật dễ để mà suy diễn. Nếu, 50 năm trước, các bác ấy cứ theo Tố Hữu, viết huỵch toẹt: Má thét lớn tụi bay đồ chó/Cướp nước tao, cắt cổ dân tao…; hay thật xạo: Yêu biết mấy nghe con tập nói/ Tiếng đầu lòng con gọi Stalin… rồi trơ trẽn khi nghe tin Stalin chết: Thương cha, thương mẹ, thương chồng/Thương mình thương một, thương Ông thương mười, thì cuộc đời các bác ấy chắc chắn đã không phải thế.
Viết như thế không chỉ giúp Tố Hữu leo dần tới BCT, đã từng có lúc ông nhà thơ khẩu hiệu này lãnh đạo sự nghiệp phát triển kinh tế cho đất nước. Chúng ta không chỉ là nạn nhân của ông ở góc độ “giá lương tiền”. Suốt gần 30 năm, sách vở ngập tràn thơ Tổ Hữu. Bài thi nào cũng Tố Hữu. Giải bình thơ hay nào cũng Tố Hữu. Biết bao thế hệ đã tưởng đấy là thơ. Dân trí đã từng bị đặt trong cái “thênh thang 8 thước” đó. Nay thì Tố Hữu đã chết. Mới đây, gia đình ông đã bán nốt căn biệt thự ở phố Hồ Xuân Hương với giá tính bằng đô la cũng hơn 7 triệu.
Trong khi những người như Tố Hữu được ban những bổng lộc như vậy, những người như Trần Dần, Hữu Loan lại bị đọa đày. Bà Phạm Thị Nhu, vợ ông Hữu Loan, kể: “Chúng tôi nuôi 10 đứa con thật vô cùng vất vả. Ông nhà tôi đi thồ đá, tôi làm 2 sào ruộng, lại xay bột làm bánh bán ở chợ. Hôm nào bán ế là gánh về một gánh nặng, cả nhà ăn trừ bữa. Tôi cứ xào một xoong to toàn các thức rau, các con đi học về là nhào vào múc ăn thay cơm. Ba đứa trai lớn thì hàng ngày phải dậy từ 3 giờ sáng, kéo 3 chuyến xe cải tiến chở đá từ trên núi xuống hồ cách 2 cây số, bán cho các thuyền rồi mới ăn vội bát cơm độn để chạy bộ 7 cây số đi học." Các con của Hữu Loan gần như không có ai vào được đại học vì lý lịch của một kẻ “Nhân Văn”. Một người con thi đủ điểm đi học nước ngoài cũng không được đi học. Ông đã bị biết bao người thân trách cứ. Nhưng, khi quyết định rời bỏ Hà Nội về quê, Hữu Loan đã nói với vợ: “Thôi thì bà với các con chịu khổ để cho tôi được sống lương thiện. Tôi mà chịu khó hót thì nhà lầu xe hơi sung sướng đấy, nhưng tôi không làm được”. Ông giải thích: “Làm nhà văn khó lắm. Viết vừa lòng nhà nước thì dân chửi, viết vừa lòng dân thì đi tù như chơi. Thôi tôi về đi cày”.
Đôi khi nghĩ, những người như Hữu Loan, Trần Dần dại thật. Nhưng, Những ngày ấy bao nhiêu thương xót, làm sao có thể bắt những người như các ông có thể quay lưng lại với nhân dân!

Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2014

Hai quyển từ điển rất có hại cho tiếng Việt*

*Nguồn Boxit.vn
Lê Mạnh Chiến
I. Vài lời của tác giả nhân việc đăng bài lên mạng Internet
Bàì viết về hai quyển từ điển rất có hại cho tiếng Việt mà quý vị độc giả sẽ đọc dưới đây được viết theo lời nhắn nhủ từ một biên tập viên của báo Người Đại biểu Nhân dân (nay là báo Đại biểu Nhân dân). Trước đó, tác giả đã viết bài 170 sai lầm trong một cuốn từ điển và đã gửi cho tạp chí Thế Giới Mới để đăng nhiều kỳ, nhưng chỉ mới đăng được 6 kỳ (từ số 582 ra ngày 26/4/2004 đến số 587 ra ngày 31/5/2004) với 67 ví dụ thì bị dừng lại. Tác giả đã đến Văn phòng đại diện của tạp chí Thế Giới Mới ở Hà Nội để tìm hiểu sự tình và được một biên tập viên ở đó cho biết, đại ý như sau: “Bài này được độc giả hoan nghênh nhiệt liệt vì đã vạch rõ những cái sai nghiêm trọng trong một cuốn từ điển từng được nhiều người “có tiếng” ca ngợi. Tuy nhiên, dẫu chưa nêu rõ ai là tác giả của quyển từ điển có hại kia nhưng nhiều độc giả đã phát hiện ra GS Nguyễn Lân, mà như ông đã biết, GS Nguyễn Lân được coi là một ngôi sao sáng của ngành giáo dục Việt Nam, còn tạp chí Thế Giới Mới là cơ quan thuộc Bộ Giáo dục, cho nên, nếu “vạch áo cho người xem lưng” một cách kỹ quá thì cũng có phần “bất tiện”. Nghe vậy, tác giả rất thông cảm và biết ơn tạp chí Thế Giới Mới.
Dường như hiểu được khó khăn của tác giả trong việc công bố một bài mà một biên tập viên đáng kính của báo Đại biểu Nhân dân cho là “rất cần phổ biến rộng rãi”, người này đã nhắn tin qua nhà văn Vương Trí Nhàn và nhắc rằng do chức năng và khuôn khổ của báo Đại biểu Nhân dân, nên chỉ có thể đăng được bài ngắn mà thôi. Thế là tác giả phải gói ghém lại trong khoảng 4000 chữ, với 20 ví dụ về những lầm lỗi của GS Nguyễn Lân. Vì phải đụng chạm với một ngôi sao trong làng từ điển tiếng Việt (được trao tặng Giải thưởng nhà nước năm 2001 về khoa học và công nghệ cho "Cụm công trình về giáo dục học từ điển tiếng Việt") nên tác giả phải “dè dặt”, bèn đặt tiêu đề là “Những quyển từ điển có rất nhiều sai lầm”. Trong khi đó, tác giả cũng gửi bài gần giống bài này (lấy những ví dụ khác) cho tạp chí Nghiên cứu và Phát triển với tiêu đề Hai quyển từ điển có hại cho tiếng Việt thì được BBT tạp chí này thêm một chữ rất (trở thành Hai quyển từ điển rất có hại cho tiếng Việt) và đăng ngay. Tạp chí Văn hóa Nghệ An số 56 (tháng 01/2005) cũng đăng bài này với tiêu đề ấy. Tác giả rất cảm ơn và thấy đúng là phải đặt tiêu đề như thế. Bởi vậy, ở đây, tác giả xin lấy tiêu đề như tạp chí Nghiên cứu và Phát triển đã sửa chữa giùm.
Cũng xin nói thêm về “số phận” của bài này sau khi được đăng trong hai số báo Người Đại biểu Nhân dân (số 67 và 68, ngày 27 và 29 tháng 4 năm 2005).
Sau khi bài này được đăng trên báo Người Đại biểu Nhân dân chừng hai tháng, nhân khi tác giả đến tòa soạn để nộp một bài khác (hình như là bài Chớ nên bịa đặt cứ liệu lịch sử nói về việc bịa đặt cứ liệu lịch sử trong sách Lịch sử Hà Tĩnh (nói rằng sách Đường thư đã ghi chép việc “Mai Thúc Loan từng làm phu gánh quả vải tươi sang kinh đô Trường An”, mà tất cả các nhà sử học hàng đầu, được gọi là “tứ trụ” của giới sử học đều phạm phải) nên đã hỏi thăm về phản ứng đối với bài Những quyển từ điển... Tác giả được biết rằng tình hình ở đây tuy giống như ở tạp chí Thế Giới Mới (bài báo được hoan nghênh) nhưng có hơi khác một chút xíu. Số là ngay trong ngày 27/4/2005, nghĩa là khi bài báo mới in được một nửa, GS Nguyễn Lân Dũng đã gọi điện thoại đến tòa soạn (vì ông là đại biểu Quốc hội, được phát báo đến tận tay), cực lực phản đối việc đăng bài này, với lý do đại để nói rằng ”GS Nguyễn Lân là một nhân vật nổi tiếng đã “thành danh”, sao dám làm mất uy tín của ông? Ban biên tập đã trả lời đại ý là: “Vì thấy bài này viết rất chặt chẽ, có chứng cứ đầy đủ, rất có trách nhiệm và rất bổ ích nên chúng tôi đăng. Còn nếu đồng chí thấy có gì sai thì cứ viết bài phê phán, chúng tôi sẽ đăng ngay”. Từ đó đến nay đã gần 8 năm trôi qua mà vẫn không thấy GS Nguyễn Lân Dũng hoặc bất cứ ai vạch được điều gì sai trái của tác giả. Điều đó chứng tỏ rằng những sai lầm nghiêm trọng của GS Nguyễn Lân mà tác giả Lê Mạnh Chiến đã phê phán là hoàn toàn chính xác, không thể bác bỏ. Sự im lặng của GS Nguyễn Lân Dũng và của những người mê tín GS Nguyễn Lân là bằng chứng hùng hồn nhất để khẳng định điều đó.
Mặc dầu những người muốn phản đối bài báo này đều đành phải bó tay nhưng tác giả vẫn cảm thấy rất đáng buồn, bởi vì, tuy người ta vẫn luôn mồm nói câu “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” nhưng báo Giáo dục và thời đại thì từ chối, không đăng bài nói về mối hại đối với tiếng Việt, Bộ Giáo dục thì coi như không có vấn đề gì xảy ra. Đặc biệt, GS Nguyễn Lân Dũng, một đại biểu Quốc hội được tiếng là thẳng thắn, cương trực, vì dân, v.v. thì lại cực lực phản đối bài báo rất cần cho dân, sau đó, liên tục cho tái bản hai quyển từ điển rất có hại cho tiếng Việt mà vẫn không có ai lên tiếng. GS tiêu biểu, được coi là chuyên gia hàng đầu về tiếng Việt, ngôi sao của ngành giáo dục thì như vậy, GS Đại biểu Quốc hội thì như vậy, Bộ Giáo dục thì như vậy, các trường đại học và cả một đội ngũ giáo sư đông đảo... tất cả đều thờ ơ với số phận của tiếng Việt như vậy, thử hỏi, làm sao mà nền giáo dục không “xuống cấp”, văn hóa không lụn bại, đạo đức không suy đồi? Tác giả tuy có quyền tự hào nhưng vẫn mang trong mình một nỗi đau khôn nguôi.
Bao giờ nền giáo dục nước ta mới hồi sinh?
Bài này được viết đã lâu nhưng chưa hiện diện trên mạng Intternet. Nhận thấy nó còn giữ nguyên ý nghĩa thời sự, tác giả mong được các blogger cho phổ biến tới đông đảo độc giả. Sau đây là bài mà báo Người Đại biểu Nhân dân đã đăng ở số 67 và 68, ngày 27 và 29 tháng 4 năm 2005.
II. Hai quyển từ điển rất có hại cho tiếng Việt
Mùa thu năm 2003, thầy giáo về hưu H.H.Phúc ở Hà Tĩnh có đưa cho chúng tôi xem một quyển từ điển giải nghĩa các từ Hán-Việt dày hơn 860 trang, mà theo thầy thì nó rất tồi tệ, rất có hại cho người sử dụng vì nó có quá nhiều sai lầm nghiêm trọng. Thầy đề nghị chúng tôi đọc và phân tích, phê phán những chỗ sai để cảnh báo trước toàn xã hội về tai hại của nó. Chúng tôi liền mở ra xem, lướt qua vài chục tờ ở vần A thì giật mình khi thấy ở từ ác ôn, soạn giả giải thích rằng ôn nghĩa là bệnh dịch. Thực ra, vốn là 惡 棍 ác côn, do sự biến âm chút ít mà thành ra ác ôn. Chữ côn có nghĩa gốc là cái gậy và nghĩa mở rộng là kẻ hư hỏng; nó có mặt trong các từ du côn, côn đồ. Do đó, ác ôn là kẻ hư hỏng, gây nhiều tội ác. Lướt qua vài trang, gặp từ anh hùng thì thấy giải thích rằng hùng nghĩa là loài thú khỏe nhất. Tuy từ điển này không ghi chữ Hán, nhưng qua cách giải thích như vậy thì ta biết rằng soạn giả nghĩ đến chữ hùng (熊) nghĩa là con gấu. Nhưng, trong từ anh hùng 英雄 thì hùng (雄) nghĩa là người có tài trí kiệt xuất. Cách giải thích các từ tố ônhùng như thế chứng tỏ rằng soạn giả không hề biết chữ Hán (mặc dầu có thể đã từng đi học chữ Hán, nhưng “chữ của thầy đã trả hết cho thầy” rồi), mà chỉ đem lời đoán mò để giảng giải các từ ngữ Hán-Việt, may ra thì đúng. Lật vội mấy trang nữa, liếc vào từ đại sứ 大使, một từ rất quen thuộc, ta lại phải kinh ngạc vì ở từ này, chữ đại nghĩa là lớn (大) thì soạn giả lại giảng rằng đại nghĩa là thay thế (代).
Chỉ với ba ví dụ vừa nêu cũng đủ để kết luận ngay rằng quyển từ điển này không đáng tin cậy và rất có hại cho người sử dụng nó. Lúc bấy giờ, chúng tôi chưa biết ai là người biên soạn, vì quyển sách bị xé mất mấy trang đầu và vài trang cuối. Thầy H.H. Phúc bảo tôi: “Rồi ta sẽ biết tên sách và tên tác giả thôi, nhưng trước mắt, ông nên chiu khó đọc và phát hiện thêm nhều sai lầm trong đó để cảnh báo trước công luận về mối nguy hại do nó gây ra”. Tôi đồng ý với thầy vì thấy điều đó là cần thiết, hơn nữa, tôi cũng có chút tò mò, muốn biết soạn giả này liều lĩnh và vô trách nhiệm đến mức nào. Thế là tôi phải đọc tương đối kỹ hơn, và bước đầu đã phát hiện được khoảng 170 sai lầm trong cuốn từ điển này.
Tạp chí Thế Giới Mới từ số 582 đến số 587 (từ ngày 26.4. đến 31.5.2004 ) đã công bố bài 170 sai lầm trong một cuốn từ điển nhưng độc giả chưa biết tên cuốn từ điển đó. Bài ấy đã được đăng liên tiếp trong 6 kỳ mà chỉ mới nêu được 68 từ phạm sai lầm. Nhưng, như thế cũng đủ cho thấy nhiều sai lầm rất đáng sợ mà soạn giả đã phạm phải.
Sau đó, được một số độc giả mách bảo, chúng tôi đã xác định được rằng quyển sách chứa hàng đống sai lầm kia chính là Từ điển từ và ngữ Hán Việt của GS Nguyễn Lân (bản mà chúng tôi đã đọc là của Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, HN, 2002). Một số độc giả còn cho biết thêm rằng những sai lầm mà chúng tôi đã nêu đều có mặt đầy đủ trong quyển Từ điển từ và ngữ Việt Nam (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2000), mà người biên soạn cũng chính là GS Nguyễn Lân. Chúng tôi đã đối chiếu hai quyển với nhau thì thấy rằng Từ điển từ và ngữ Việt Nam (2112 trang) chứa gần như trọn vẹn cả Từ điển từ và ngữ Hán Việt (867 trang), cho nên, những từ bị giảng sai trong Từ điển từ và ngữ Hán Việt thì đều có mặt trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam. Ngoài ra, chúng tôi cũng được đọc bài Đọc lướt Từ điển từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân, trong quyển Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm của tác giả Huệ Thiên (do Nhà xuất bản Trẻ phát hành vào quý 3 năm 2004; bài này được in lại từ tạp chí Văn ở TP Hồ Chí Minh , số 6, tháng 9 và số 8, tháng 11 năm 2000), trong đó, tác giả chỉ mới ‘’đọc lướt’’ các vần A, B, C (chiếm 1/5 quyển sách) mà đã vạch ra được 117 điều “chưa ổn’’. Những ý kiến phê bình của ông Huệ Thiên rất xác đáng. Tuy nhiên, vì chỉ mới “đọc lướt’’ cho nên trong phần mà ông đã đọc qua vẫn còn những sai lầm nghiêm trọng chưa bị phát hiện. Từ đó, chúng ta biết rằng ngoài những sai lầm giống như ở Từ điển từ và ngữ Hán Việt (mà chúng tôi đã tìm thấy hơn 200 trường hợp), Từ điển từ và ngữ Việt Nam còn chứa vô số sai lầm khác nữa, rất có hại cho việc học tập và giảng dạy tiếng Việt.
Như vậy, riêng GS Nguyễn Lân đã biên soạn ra hai quyển từ điển rất có hại cho tiếng Việt. Điều này làm cho nhiều người đau lòng, nhưng đó là sự thực không thể chối cãi. Với số lượng sai lầm nhiều đến mức ấy thì phải in thành sách hoặc đăng nhiều kỳ liên tiếp mới có thể tải hết được. Trong phạm vi một bài viết cho một lần đăng báo, chúng tôi chỉ có thể nêu vài chục ví dụ về những sai lầm nằm trong cả hai quyển từ điển kể trên để độc giả chứng giám.
1. ẩn lậu 隱漏
Theo soạn giả thì ẩn = giấu kỹ, lánh đi, ngầm; lậu = rỉ ra ngoài, và ẩn lậu nghĩa là giấu giếm, không thẳng thắn nói ra. Quả thật, trong chữ Hán, chữ lậu 漏 này có nghĩa là rỉ ra ngoài. Nhưng như thế thì các từ tố ẩnlậu có vẻ như trái nghĩa với nhau, bởi vậy, giải nghĩa như vậy là không thoả đáng, mà có thể nói là sai. Chữ lậu còn có vài nghĩa khác nữa, mà trong trường hợp này nó có nghĩa là lọt, là thoát (lậu võng nghĩa là lọt lưới), cũng là trốn tránh mà thôi. Vậy ta có thể nói rắng, ẩn lậu nghĩa là giấu giếm, là lẩn tránh. Soạn giả định nghĩa rằng ẩn lậu nghĩa là giấu giếm, không thẳng thắn nói ra là để “khắc phục” điều mâu thuẫn mà ông cũng nhận thấy như chúng tôi chăng, nhưng, không thẳng thắn nói ra nghĩa là nói một cách ấp úng vì sợ sệt, hoặc là ở trong tình thế không thể giấu giếm được nên đánh phải nói ra chứ đâu có phải là ẩn lậu.
2. bàn hoàn 盤桓
Từ bàn hoàn có hai nghĩa: a) quanh quẩn không dứt ra được; b) quấn quýt với nhau. Giải thích như thế cũng tạm được. Về các từ tố, soạn giả cho rằng bàn là quanh co, hoàn là uốn éo. Thực ra, bàn 盤 nghĩa là vòng vèo, còn chữ hoàn 桓 này có các nghĩa như sau: a) cột gỗ dựng bên cạnh các dịch trạm (tức là trạm chuyển công văn) hoặc các công thự để quy định vị trí đứng đợi. Như vậy, từ bàn hoàn 盤桓 có nghĩa ban đầu là đi lại quanh quẩn cái cột mốc để mong ngóng. Về sau, nó có nghĩa mở rộng là bồi hồi, vương vấn, và quấn quýt.
3. bắc thần 北辰
Bắc thần nghĩa là sao bắc cực. Chữ thần 辰 này có nhiều nghĩa, trong đó, có nghĩa là thiên thể, là tinh tú, là ngày tháng, là đế vương (khác hẳn với chữ thần 臣 nghĩa là kẻ bề tôi hoặc chữ thần 神 trong từ tinh thần 精神). Trong trường hợp này, thần 辰 có nghĩa là ngôi sao. Nó còn có âm là thìn để chỉ ngôi thứ 5 trong 12 ngôi địa chi (tí, sửu, dần, mão, thìn, tị…). Soạn giả đưa ra một định nghĩa rất dài dòng: bắc thần là ngôi sao sáng hình như đứng yên một chỗ trên bầu trời và giúp ta xác định hướng chính bắc. Ðịnh nghĩa này không sai nhưng quá rườm rà. Ðiều không thể tha thứ được là ông đã “phán” bừa rằng thần nghĩa là tinh thần.
4. bị cáo 被告
Bị cáo là người bị tố cáo và bị toà án đem ra xét xử. Soạn giả đã hiểu đúng nghĩa của từ này, nhưng thật đáng ngạc nhiên khi thấy ông giải thích rằng cáo nghĩa là báo cho biết! Nếu đúng như vậy thì từ bị cáo chẳng liên quan gì với việc báo cho biết. Ðành rằng chữ cáo 告 cũng có nghĩa là báo cho biết, nhưng nó còn có một số nghĩa khác nữa, mà cụ thể ở đây làbuộc tội, vạch tội.
5. bức xạ 輻射
Theo soạn giả, bức nghĩa là bắt buộc, xạ nghĩa là bắn; bức xạ là sự phát và truyền năng lượng dưới dạng sóng và dạng hạt. Có thể chấp nhận định nghĩa này về bức xạ. Nhưng soạn giả đã phạm sai lầm nghiêm trọng khi ông đoán liều rằng bức nghĩa là bắt buộc. Chữ bức 輻 ở đây (khác hẳn chữ bức 逼 là bắt buộc) có nghĩa gốc là nan hoa ở bánh xe, và có nghĩa mở rộng là toả ra khắp mọi phía xung quanh.
6. cử tọa 擧座
Về từ tố cử, soạn giả nêu ra các nghĩa: cất lên, đưa lên, nổi dậy, thi đỗ; còn tọa thì có nghĩa là ngồi. Thực ra, chữ tọa 座 ở đây có nghĩa là chỗ ngồi (khác với chữ tọa 坐 nghĩa là ngồi). Về chữ cử, ngoài vài nghĩa mà soạn giả đã nêu, còn có nhiều nghĩa khác, trong đó có nghĩa là tất cả., và đó chính là nghĩa của nó trong từ cử tọa. Vì thế, cử tọa nghĩa là tất cả những người ngồi dự một cuộc họp
7. dạ hợp 夜合
Theo lời soạn giả thì dạ = ban đêm; hợp = thích hợp; và dạ hợp là một loài cây cùng họ với ngọc lan, hoa trắng rất thơm, nở về ban đêm. Cách cắt nghĩa từ tố hợp như trên đã khiến ông tin rằng dạ hợp nghĩa là thích hợp với ban đêm nên loài hoa này ắt phải nở về đêm! Ðó là một điều sai nghiêm trọng. Ðúng là chữ hợp 合 có một nghĩa là thích hợp, là phù hợp, nhưng nó còn có nhiều nghĩa khác nữa. Trước hết, nghĩa ban đầu của nó là khép lại, mà đó cũng chính là nghĩa cụ thể trong từ dạ hợp 夜合. Từ điển Từ nguyên nói về cây dạ hợp như sau: “mộc bản, diệp trường, hoa thanh bạch sắc, hiểu khai dạ hợp, cố danh”. Nghĩa là: thân gỗ, lá dài, hoa màu trắng xanh, trời sáng thì nở, ban đêm thì cụp lại, do đó mà có tên ấy. Như vậy, vào ban đêm, hoa dạ hợp không thể nở được, dẫu đã nở rồi cũng phải cụp lại.
8. Ðịa Trung Hải 地中海
Ðịa là đất, là lục địa; trung là ở trong, ở giữa; hải là biển. Ðịa Trung Hải là biển ở trong lục địa. Tuy nhiên, từ này đã trở thành tên riêng để chỉ một biển cụ thể, có diện tích 25 triệu km2, nằm ở phía nam Châu Âu, phía bắc Châu Phi, phía tây Châu Á, thông với Ðại Tây Dương qua eo biển Gibraltar và thông với Biển Ðỏ qua kênh đào Suez. Ðiều đáng ngạc nhiên là sau khi giải thích rằng Ðịa Trung Hải là biển ở giữa lục địa, soạn giả đưa ra một câu ví dụ: Biển Caxpiên của Liên xô là một địa trung hải. Như vậy, ông đã không định nghĩa được từ Ðịa Trung Hải, lại còn dùng từ này như một danh từ chung, với nghĩa là cái hồ lớn. Hơn nữa, biển Caxpiên còn có 43.200 km2 thuộc chủ quyền của Iran chứ không hoàn toàn thuộc Liên Xô trước đây.
9. đồng lõa 同伙
Có lẽ ai cũng biết rằng từ đồng lõa có hai nghĩa: 1) người trong cùng một nhóm để làm một việc bất chính (danh từ), và 2) cùng tham gia một nhóm làm việc bất chính (động từ). Soạn giả dạy rằng lõa là cái bọc. Thực ra, lõa là âm đọc chệch từ chữ hỏa 火 nghĩa là lửa, là bếp. Theo binh chế thời xưa, mười người lính thì cùng nấu một bếp, tạo thành một hỏa, như một tiểu đội vậy. Đồng hỏa 同伙 (chữ hỏa 火 ở đây thường được viết là 伙 để chỉ người) nghĩa là người trong cùng một bếp ăn, mở rộng ra là bọn người cùng một nhóm “làm ăn với nhau” (thường là bất chính.)
10. giám quốc 監國
Soạn giả cho biết: giám nghĩa là trông coi, quốc là nước. Đúng. Nhưng ông định nghĩa rằng giám quốc là người đứng đầu một nước cộng hoà tư sản thì sai to. Càng sai nữa khi ông viết rằng Ngày nay người ta dùng từ “tổng thống” để thay từ “giám quốc”. Thực ra, giám quốc là người cầm quyền tạm thời khi vua vắng mặt hoặc khi vua còn nhỏ. Ví dụ, năm 1908, Phổ Nghi lên ngôi khi mới hai tuổi, đình thần nhà Thanh đã cử cha của ông ta là Tải Thuần làm giám quốc. Cuối năm 1787, tướng của Nguyễn Huệ là Vũ Văn Nhậm ra Bắc giết Nguyễn Hữu Chỉnh rồi lập Sùng Nhượng Công Lê Duy Cận (chú của Lê Chiêu Thống ) làm giám quốc vì Lê Chiêu Thống đã chạy khỏi kinh thành để cầu cứu quân Thanh. Khi Nguyễn Huệ ra Bắc giết Vũ Văn Nhậm, ông vẫn để Lê Duy Cận làm giám quốc.
11. kinh lạc經絡
Soạn giả cho biết rằng chữ kinh 經 có các nghĩa: sửa trị, đường dọc, sách vở, từng trải, thường. (Chúng ta hiểu rằng trong từ kinh lạc, thì kinh có nghĩa là đường dọc). Còn chữ lạc thì ông cho rằng đó là dây thần kinh, và kinh lạc là hệ thống dây thần kinh nối liền các huyệt. Nhưng, theo từ điển Từ Hải thì kinh lạc là mạng lưới các đường vận chuyển khí huyết (theo quan niện của Đông y, gần có nghĩa như năng lượng) trong cơ thể. Kinh 經là những đường chính chạy theo chiều dọc của cơ thể; lạc絡 là những đường nối ngang giữa các đường dọc ấy; các huyệt châm cứu đều nằm trên mạng lưới kinh lạc. Hệ kinh lạc khác hẳn hệ thần kinh, và các đường kinh lạc không trùng với các dây thần kinh.
12. linh sàng 靈床
Linh là thiêng liêng, là liên quan đến người chết; sàng là cái giường. Các từ tố này đã được soạn giả giải nghĩa đúng. Nhưng ông cho rằng linh sàng là giường thờ người mới chết chưa đem chôn. Nếu như vậy thì phải chăng Nguyễn Du đã dùng sai từ này ở hai câu thơ trong Truyện Kiều:
Sang nhà cha, tới trung đường,/ Linh sàng bài vị thờ nàng ở trên.
Thật ra, từ linh sàng có hai nghĩa: 1) giường đặt thi thể người chết khi đám tang; 2) cái bàn nhỏ đặt trước bàn thờ, làm “chỗ nghỉ” cho linh hồn người chết khi chưa hết tang. Đó chính là cái “giường thờ”, rồi từ đó, dân ta cũng gọi cái bàn thờ là “giường thờ” khiến nhiều người, kể cả những người biên soạn từ điển tiếng Việt đã định nghĩa: “giường thờ” là bàn thờ tổ tiên, cao và rộng! (Hoàng Phê). Trong hai câu thơ trên đây, linh sàng mang nghĩa thứ hai.
13. lộng hành 弄行, lộng quyền 弄權
Lộng hành nghĩa là hành động một cách coi thường mọi người. Lộng quyền nghĩa là đem quyền hành ra làm trò đùa, muốn làm gì thì làm, chẳng kể gì đến phép tắc luật lệ. Chữ lộng 弄 có một số nghĩa thông thường là: chơi đùa; đem sự vật khác hoặc sự việc khác ra làm trò đùa; khinh nhờn, coi thường. Với nghĩa như thế, người ta còn có từ lộng nguyệt, nghĩa là chơi đùa với trăng, tức là vui chơi dưới ánh trăng, lộng ngôn là nói năng bừa bãi, thích nói gì thì cứ nói, và lộng bút nghĩa là viết lách vô trách nhiệm, không biết cũng viết bừa, coi thường mọi người. Tiếc thay, soạn giả chỉ nắm được nghĩa sơ sài của các từ lộng hànhlộng quyền rồi suy ra rằng lộng nghĩa là lấn át. Chưa kể đến hàng trăm trường hợp giảng giải liều lĩnh khác, chỉ riêng trường hợp này cũng đã đủ cho phép mọi người coi ông là một kẻ lộng bút.
14. lưu chiểu 留照
Soạn giả giảng rằng lưu = giữ lại; chiểu = văn bản; và lưu chiểu là tác phẩm văn nghệ nộp cho cơ quan lưu trữ của nhà nước để làm tài sản chung. Nhưng, chẳng có chữ chiểu nào có nghĩa là văn bản cả. Hơn nữa, chúng ta biết rằng chữ chiểu ở đây chính là biến âm của chữ chiếu 照, tức là đối chiếu, là so sánh để phát hiện thật hay giả hoặc đúng hay sai. Lưu chiểu là giữ lại bản mẫu của văn bản đã lưu hành để so sánh, kiểm tra khi cần thiết. Mục đích chính của việc lưu chiểu là như thế chứ không phải để làm tài sản chung. Soạn giả đã không hiểu chữ chiểu và cũng không hiểu gì về từ lưu chiểu.
14. lỵ sở治所
Lỵ sở là trung tâm hành chính của một địa phương. Nhưng thật là sai lầm khi soạn giả đoán rằng lỵ là đến nơi. (Chữ này có mặt trong từ lỵ nhậm 蒞任, nghĩa là đến nơi nhậm chức). Ông không biết rằng lỵ sở vốn là trị sở治所 nhưng bị đọc chệch đi và đã trở thành thói quen. Lỵ ở đây chính là trị 治, nghĩa là cai quản, điều hành công việc, và cũng dùng để gọi tắt từ trị sở.
15. thôi thúc 催促
Từ này tưởng là quá đơn giản, thế mà soạn giả đã giảng sai. Theo ông, thôi nghĩa là thúc giục, và thúc nghĩa là buộc. Thực ra, chữ thúc 促 này có nghĩa là giục giã, là đòi phải tăng tốc, như trong từ đốc thúc, khác với chữ thúc 束 nghĩa là buộc. Chữ thúc trong từ thôi thúc cũng có âm là xúc, và có mặt trong từ xúc tiến.
16. thế nghiệp 世業
Soạn giả đã giảng rằng thế nghĩa là quyền lực hoặc trạng thái (có dạng chữ Hán là 勢), nghiệp nghĩa là nghề, và thế nghiệp là chức vụ do cha ông để lại trong thời phong kiến. Thực ra thế 世 nghĩa là đời, nghiệp 業 là sự nghiệp hoặc sản nghiệp. Thế nghiệp 世業 là sự nghiệp hoặc tài sản do đời trước để lại. Các bộ từ điển đáng tin cậy đều định nghĩa như thế.
18. trữ tình 抒情
Vì không biết “mặt chữ” mà chỉ phỏng đoán theo cảm tính nên soạn giả đã giảng giải rằng trữ là chứa chất, tình là tình cảm; trữ tình là chứa chất tình cảm. Thật là sai lầm nghiêm trọng. Nên nhớ rằng ở đây, trữ 抒 nghĩa là biểu đạt, là bày tỏ. Trữ tình nghĩa là bày tỏ tình cảm. Cần phân biệt chữ trữ 抒 này với chữ trữ 貯 trong từ tích trữ.
19. vi điện tử 微 電 子
Vi điện tử là hạt điện tử rất nhỏ, đó là cách giải thích của soạn giả, khiến người đọc buồn cười. Điện tử, tức electron, là một loại hạt cơ bản bền vững, là hạt tích điện âm trong mọi vật chất thông thường, có khối lượng bằng khoảng 9,11 x 10-28gram và điện tích khoảng -1,602 x 10-19 coulomb. Như vậy, điện tử có khối lượng và điện tích rất cụ thể, làm gì có thứ điện tử rất nhỏ khác nữa?
Từ vi điện tử vốn được dịch từ tính từ microelectronic(al) trong tiếng Anh (hoặc micro-electronique trong tiếng Pháp), nó chỉ có thể đóng vai trò tính từ, như trong các cụm từ như mạch vi điện tử, thiết bị vi điện tử, v.v. để chỉ mạch điện tử hoặc thiết bị điện tử có kích thước cực kỳ nhỏ bé.
20. viễn phố 遠浦
Soạn giả giải thích rằng viễn = xa; phố = chỗ bán hàng, nhà trạm; và viễn phố = nơi ở xa. Rồi ông trích dẫn câu thơ Gác mái, ngư ông về viễn phố… của Bà huyện Thanh Quan. Ông không hiểu rằng ở đây, phố 浦 nghĩa là bến sông chứ không phải phố 鋪 là cửa hàng. Viễn phố 遠浦 nghĩa là bến sông ở xa. Bà huyện Thanh Quan ở thế giới bên kia hẳn phải nổi giận và vô cùng đau lòng cho đất nước nếu bà biết rằng có một nhà biên soạn từ điển tiếng Việt ở cuối thế kỷ XX đã giảng giải thơ của bà như thế.
Vài chục thí dụ trên đây chỉ là một phần mười của những sai lầm mà chúng tôi đã phát hiện được trong Từ điển từ và ngữ Hán Việt, mà cũng nằm cả trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam của GS Nguyễn Lân. Đương nhiên, vì Từ điển từ và ngữ Việt Nam chứa trọn nội dung của Từ điển từ và ngữ Hán Việt và còn thêm rất nhiều từ ngữ khác ít liên quan đến Hán ngữ nên nó còn phạm vô số sai lầm khác mà tác giả Huệ Thiên đã cho thấy một phần qua bài Đọc lướt Từ điển từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân.
Qua những thí dụ này, chúng ta thấy soạn giả Nguyễn Lân luôn luôn sẵn sàng “sáng tác” nghĩa cho các từ tố; hơn nữa, ông lại rất thiếu kiến thức về văn hóa, lịch sử và khoa học. Nếu trong đời một giáo viên đứng trên bục giảng mà một hai lần phạm vài sai lầm như những trường hợp kể trên thì cũng trở thành trò cười và mang tiếng cả đời rồi. Huống chi, từ điển là sách cung cấp những hiểu biết chính xác về từ ngữ, ở đây là từ ngữ tiếng Việt, mà phạm đến vài trăm sai lầm lớn như thế, sao có thể chấp nhận được?
Một thực tế rất đáng buồn là Từ điển từ và ngữ Hán Việt chứa nhiều sai lầm nghiêm trọng như vậy nhưng sau lần xuất bản đầu tiên năm 1989 (Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh), nó đã được tái bản nhiều lần. Vì thế nên đến năm 2000, GS Nguyễn Lân lại cho ra đời quyển Từ điển từ và ngữ Việt Nam lớn hơn và càng nhiều sai lầm hơn. Đặc biệt, Từ điển từ và ngữ Hán Việt thì được GS Lê Trí Viễn coi là cuốn từ điển Hán Việt tốt nhất từ trước đến nay, và nó sẽ là công cụ tra cứu không thể thiếu được đối với bất kỳ ai, trước hết là học sinh, sinh viên, các thầy cô giáo, các nhà biên soạn, khi muốn nắm được nghĩa chính xác của từ và ngữ Hán Việt trong tiếng Việt hiện nay. Còn về giá trị của Từ điển từ và ngữ Việt Nam thì GS Vũ Khiêu cho rằng “trí tuệ và tâm huyết của tác giả đã tạo ra một tác phẩm rất có giá trị mà cả xã hội đang mong đợi” (theo Lời giới thiệu).
Khỏi phải bàn về tính khả tín của hai vị giáo sư này.
L. M. C.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Thứ Sáu, 27 tháng 12, 2013

Án tử hình kẻ 'chặt tay cướp xe SH': Tòa xử ác




 

Tử hình kẻ cướp máu lạnh là thỏa đáng 1
Hồ Duy Trúc (ngoài cùng, bên phải) cùng đồng bọn trước vành móng ngựa 
Cụ thể: Hồ Duy Trúc bị tuyên án tử hình; Nguyễn Văn Luông chung thân, Nguyễn Hoàng Phương 20 năm tù…Nhiều bạn đọc, luật sư, chuyên gia pháp lý bày tỏ đồng tình với mức án nghiêm khắc mà tòa đã tuyên.
Hành động quá man rợ!
Luật sư Hà Hải (Đoàn luật sư TP.HCM) chia sẻ, trong lời nói đầu của Bộ luật Hình sự quy định: Pháp luật hình sự là một trong những công cụ để đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội an toàn, lành mạnh.
 

Trao đổi với PV Thanh Niên Online sau phiên xử, chủ tọa phiên tòa, ông Nguyễn Minh Cảnh nói: “Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử theo căn cứ vào các quy định của pháp luật và không nêu ý kiến gì về bản án đã tuyên. Xin dành cho các chuyên gia pháp lý, các luật sư nêu quan điểm và dư luận xã hội đánh giá”.

Để thực hiện nhiệm vụ đó, Bộ luật Hình sự quy định tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội. Tùy từng giai đoạn cụ thể mà mức hình phạt của các loại tội cũng có thay đổi cho phù hợp với tình hình cũng như tính nguy hiểm của tội phạm.

Liên quan đến việc một số người nhà của bị cáo phản ứng cho rằng tòa “xử ác”, không giết người mà tuyên tử hình, luật sư Hà Hải phân tích: Không phải cứ giết người là tử hình vì cơ cấu của tội giết người cũng chia ra làm nhiều khung hình phạt từ thấp đến cao phù hợp với mức độ, hành vi phạm tội. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật Hình sự, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và tương xứng với từng mức độ, sẽ có những khung hình phạt thích hợp.
Có rất nhiều tội Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt cao nhất là tử hình chứ không phải chỉ có tội giết người. Hiện nay, Nhà nước ta đang nỗ lực đảm bảo trật tự, trị an xã hội nên loại tội cướp tài sản được quy định có khung hình phạt cao nhất là tử hình nếu: gây thương tích cho người khác từ 61% trở lên, hoặc chiếm đoạt tài sản từ 500 triệu đồng trở lên, hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Tử hình kẻ cướp máu lạnh là thỏa đáng 3
Các bị cáo cúi đầu trước vành móng ngựa chiều 25.12. Đứng ngoài cùng bên phải là
Hồ Duy Trúc - Ảnh: Lê Nga
Trong vụ chặt tay cướp SH, luật sư Hà Hải nhận định hành động của bọn tội phạm quá man rợ không còn tính người, thể hiện sự coi thường pháp luật.
“Việc tử hình như vậy là xứng đáng để cho thấy sự cứng rắn của pháp luật nhằm răn đe những kẻ coi thường mạng sống của người khác thích sống bằng kiểu đi cướp”, luật sư Hà Hải nói.
Tử hình là thỏa đáng
 

Về căn cứ pháp lý thì mức án tòa tuyên là có cơ sở kết luận rằng bản án ấy đã xét xử đúng người, đúng tội. Còn dưới góc độ một người dân, tôi hết sức đồng tình với bản án nghiêm khắc nhất dành với hung thủ máu lạnh. Gieo nhân nào thì gặt quả đó mà thôi!

Luật sư Phạm Công Út

Chia sẻ sau khi bản án tòa tuyên, Luật sư Phạm Công Út (Đoàn luật sư TP.HCM) nêu ý kiến: Người đọc dù biết luật hay không, có lẽ cũng đã thở phào nhẹ nhỏm vì án tuyên như thế đã trút đi phần nào sự âu lo về tính mạng của người đi đường, nhất là trên những đoạn đường tối, vắng người qua lại trước các hung thủ máu lạnh không nghề nghiệp nhưng cần tiền để xài “hàng đá”.
Cũng theo luật sư Út, căn cứ vào quy định tại điểm c, khoản 4 điều 133 Bộ luật hình sự, mức hình phạt dành cho hành vi này đến mức tử hình khi “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”.
Tại Thông tư liên tịch số 02/2001 quy định: "Ngoài các thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản, thì thực tiễn cho thấy có thể còn có hậu quả phi vật chất, như ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, gây ảnh hưởng về an ninh, trật tự, an toàn xã hội...
Trong các trường hợp này phải tùy vào từng trường hợp cụ thể để đánh giá mức độ của hậu quả do tội phạm gây ra là nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Đồng thời, căn cứ vào quy định tại điều 48 khi bị cáo Trúc rơi vào các trường hợp thuộc các tình tiết tăng nặng hình phạt, như: Phạm tội có tổ chức, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, cố tình thực hiện phạm tội đến cùng và tái phạm nguy hiểm… theo các điểm a, b ,e và g khoản 1 điều 48 Bộ luật Hình sự. Với tầm ảnh hưởng đến trật tự, trị an xã hội bị xáo trộn nghiêm trọng, gây hoang mang lo sợ trong nhân dân thì bị cáo có vai trò chủ chốt Hồ Duy Trúc phải nhận lãnh mức án tử hình là thỏa đáng.
Tử hình kẻ cướp máu lạnh là thỏa đáng 2
Các bị cáo đang nghe tòa tuyên án tại TAND TP.HCM chiều 25.12
- Ảnh: Lê Nga
 
Đồng quan điểm, Kiểm sát viên trung cấp Võ Mỹ Bình (Viện KSND tỉnh Tiền Giang) cho biết trong tình hình tội phạm cướp (nhất là cướp xe, cướp tài sản người đi đường) đáng báo động như hiện nay thì mức án mà tòa tuyên là hoàn toàn tương xứng, đảm bảo được yêu cầu phòng chống và răn đe tội phạm toàn xã hội.

Kiểm sát viên Võ Mỹ Bình chia sẻ: “Nếu tôi ngồi ghế công tố viên tôi cũng đề nghị tử hình. Bởi lẽ, mô tả hành vi phạm tội thấy đối tượng rất hung hãn, thực hiện hành vi đặc biệt nguy hiểm. Chúng sử dụng dao dài chém ngay mà không cần răn đe khi người bị hại đang sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ (là xe máy) lưu thông trên đường. Chỉ cần bị hại té xe, đập đầu chấn thương sọ não là tử vong rồi, không cần phải chém. Bên cạnh đó, khi chém vào những điểm trọng yếu trên cơ thể nạn nhân như vào cổ, gáy, chém đứt lìa tay… là bị cáo phải biết khả năng gây ra chết người rất cao. Trong vụ này bị hại may mắn không chết mà thôi. Như trường hợp của chị Thúy, đứt gần lìa cổ tay  nếu không được đưa đến bệnh viện kịp thời thì có nguy cơ chết vì mất máu. Hậu quả của các bị cáo này gây ra là đặc biệt nghiêm trọng. Vì vậy, tôi cho rằng mức án tòa tuyên có sức lan tỏa, được xã hội đồng tình nhằm ngăn ngừa tội phạm”.
Lê Nga
(Nguồn: thanhnien.com.vn)
-----------
Lời bình: Hai thân phận hai bản án khi so sánh với vụ trung tá công an Nguyễn Văn Ninh đánh chết ông Trịnh Xuân Tùng
Một vụ cướp của giết người dù người không chết vậy lại viện dẫn tình tiết "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" của Điều 133 BSLH để kết án tử hình.
Trong khi đó  một kẻ mang danh là công cụ để bảo vệ an ninh tính mạng cho người dân nhưng lại đánh chết dân chỉ bị kết án 8 năm tù.
Còn viện dẫn TT liên tịch 02/2001 quy định: "Ngoài các thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản, thì thực tiễn cho thấy có thể còn có hậu quả phi vật chất, như ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, gây ảnh hưởng về an ninh, trật tự, an toàn xã hội.." để tính tới yếu tố tăng nặng có khách quan.
 Theo một số tay luật sư biện hộ cho kết quả bản án rằng "vụ án gây hoang mang trong dư luận". Vậy Trung tá công an Nguyễn Văn Ninh đánh chết người không "gây hoang mang trong dư luận", không ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước?
Giá như thủ phạm Trúc nên sinh ra trong một gia đình công an hoặc làm nghề công an thì bản án sẽ khác chăng?

Thứ Tư, 25 tháng 12, 2013

THÔNG TƯ 02, TÍN HIỆU MỚI ĐỔ VỠ NGÂN HÀNG

THÔNG TƯ 02, TÍN HIỆU MỚI ĐỔ VỠ NGÂN HÀNG                                                                                         PHẠM CHÍ DŨNG
Giáng sinh buồn
Tiết trời se lạnh bất thường ở Việt Nam vào những ngày Giáng sinh 2013 như càng làm cho tảng băng nợ xấu đông cứng hơn bao giờ hết trong hệ thống ngân hàng.
Lại một Giáng sinh nữa, nhưng đây là năm thứ hai liên tiếp các ngân hàng không thể phục sinh.
Ngược lại, tai họa đang chờ đón những tác nhân đã góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp suy thoái kinh tế trong suốt 6 năm qua.
Nhanh nhảu hơn thời gian cuối năm 2012, vào lần này những con số lỗ lã đã phát lộ từ chính Ngân hàng nhà nước. Tuy vẫn có hơn 100 đơn vị tín dụng có lãi trong năm 2013, nhưng đến 50% đơn vị có mức lợi nhuận bị giảm một nửa so với năm 2012.


Không thể khác hơn, lợi nhuận ngành ngân hàng tiếp tục một năm lao dốc. Có đến 17% tổ chức tín dụng lỗ trong năm 2013, chỉ tính theo báo cáo chính thức.
Một nữ nhân viên ngân hàng than thở là trong suốt năm qua, cô đã không thể một lần đặt chân vào spa. Chỉ với 7 triệu tiền lương hàng tháng, cô luôn phải cố gắng tằn tiện để làm sao “gìn giữ hạnh phúc gia đình”.
Giờ đây, “hạnh phúc” là một khái niệm xa xỉ đối với giới ngân hàng. Nếu vào thời điểm kết thúc năm 2011, những ngân hàng được mệnh danh là “cười trên nỗi đau khổ của người khác” liên tiếp công bố khoản lợi nhuận khủng với thái độ hân hoan không kém phần tự mãn, thì hai năm sau đó, tình thế đảo lộn hoàn toàn.
Vào tháng Chạp năm ngoái và năm nay, thông tin về một số ngân hàng thương mại cắt giảm nhân viên và thưởng Tết đã nhanh chóng trở nên một phong trào rộng khắp. Vào những ngày u ám sắp Tết, người ta đã chẳng khó khăn nhận ra bản chất của ngành ngân hàng trong hai năm qua: không còn “ăn trên ngồi trốc” trước cái chết lâm sàng của ít nhất một phần ba số doanh nghiệp sản xuất, các ngân hàng đã phải ăn vào vốn của mình và nặng nề hơn thế, có khi phải ăn luôn cả vào vốn dự trữ bắt buộc.
Tương lai băng hà của khối ngân hàng thương mại vẫn lừng lững ập đến. Ngoài những ngân hàng lớn như BIDV, Vietcombank, Eximbank, Vietinbank, nhiều ngân hàng còn lại đã không thể trụ nổi trước cơn cuồng phong của suy thoái kinh tế.
Agribank là một tiêu biểu cho trạng thái tâm thần phân liệt ấy. Cho dù là quán quân về thu hút lượng tiền gửi lớn nhất trong dân và doanh nghiệp, nhưng cũng nổi danh kỷ lục với số vụ quan chức bị đưa vào vòng lao lý do tham nhũng và những hành vi tiêu cực khác, ngân hàng này đã không làm sao tránh thoát nguy cơ tỷ lệ nợ xấu tăng cao, đặc biệt là nợ xấu bất động sản.
Thông tư 02
Vào tháng Chạp năm nay, một đám mây mù mới bất chợt hiện ra trên bầu trời kinh tế đầy u ám và tiềm ẩn sấm sét. Giới ngân hàng và các quan chức nhà nước trở nên xung khắc quyết liệt vì bản thông tư 02.
Bình thường, đây chỉ là một văn bản nghiệp vụ thông thường và chẳng có gì đáng sợ. Song vào thời gian này, mối đe dọa của nó lại là quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng đối với các tổ chức tín dụng được ban hành đầu năm 2013, với thời điểm áp dụng ban đầu là 1/6/2013. Ngay lập tức, đã xuất hiện “lo ngại” từ phía ngân hàng rằng nếu áp dụng thông tư trên thì sẽ có “đổ vỡ”.
Trước tình trạng “điều kiện sức khỏe của nhiều ngân hàng và doanh nghiệp chưa đủ để đỡ sức nặng tác động của những quy định mới”, Ngân hàng Nhà nước đã xin ý kiến Chính phủ và hoãn áp dụng trong 1 năm, đến 1/6/2014. Nhiều lãnh đạo ngân hàng cùng lúc kiến nghị Ngân hàng Nhà nước xem xét tiếp tục hoãn áp dụng Thông tư 02 thêm một thời gian, thậm chí đến 2015 và 2016.
Gần như biến mất các khuôn mặt thân quen của giới chuyên gia ngân hàng trong cuộc tranh luận này. Gương mặt phản biện độc lập gần như duy nhất là chuyên gia tài chính Nguyễn Trí Hiếu - người mà vào năm 2012 đã nêu ra dự báo sẽ phải mất tối thiểu 5 năm để xử lý vấn đề nợ xấu, thay vì “quyết tâm” của Ngân hàng nhà nước đến năm 2015.
Vào lần này, ông Hiếu xác nhận tác động của Thông tư 02 là “ghê gớm”. Ông dự tính, nợ xấu tại nhiều ngân hàng theo báo cáo chỉ khoảng 3-4%, nhưng áp Thông tư 02 có thể lên 10%, 20%, thậm chí cao hơn. Khi đó, ngân hàng phải dồn một nguồn dự phòng lớn, có thể thua lỗ và thiếu lực để xử lý nợ xấu, tăng chi phí và gây sức ép đối với lãi suất…
Dấu hiệu cạn kiệt tiền mặt ở nhiều ngân hàng hiện thời là rất rõ.
Giới phân tích cũng cho rằng điều đáng sợ nằm ở quy định trên, khi thực tế có rất nhiều doanh nghiệp cùng lúc có một số khoản vay tại nhiều ngân hàng khác nhau, song chỉ cần một khoản rơi vào diện nợ xấu ở ngân hàng này, tất cả các khoản vay còn lại tại những ngân hàng khác đều trở thành nợ xấu, theo phân loại quy định tại Thông tư 02.
Một số chuyên gia lo ngại, tính chất dây chuyền này có thể đẩy nợ xấu hệ thống ngân hàng tăng lên gấp đôi, tín dụng sẽ càng đóng băng, lãi suất và nhiều vấn đề xoay quanh sẽ biến động rộng hơn, nền kinh tế sẽ càng khó phục hồi, nếu không nói là xấu đi.
Hẳn nhiên, tình hình sẽ trở nên xấu tệ nếu ít nhất người ta không thể minh bạch được tỷ lệ về nợ xấu. Cho đến nay, bất chấp hàng loạt vũ điệu công bố của Ngân hàng nhà nước về nợ xấu chỉ vào khoảng 5-6%, con số mà giới quan sát ủng hộ hơn nhiều vẫn cao gấp 6 lần: 35-37% là tỷ lệ nợ xấu mà Ủy ban giám sát tài chính quốc gia công khai vào giữa năm 2013.
Nợ tương lai
Nợ xấu bất động sản - chiếm ít nhất 70% tổng nợ xấu hiện thời - là nguồn cơn kinh hoàng nhấn chìm khối ngân hàng trong cơn đại hồng thủy mà chính ngân hàng là một tác nhân quan yếu gây ra. Cho đến tận giờ này, những con số về nợ xấu bất động sản vẫn nhảy múa không ngớt.
Dù đã bị ém nhẹm trong suốt một thời gian dài, nhưng kể từ tháng 5/2012, những thông tin đầu tiên về nỗi sợ hãi hoàn toàn không vô hình như thế cuối cùng đã phải lộ ra. Khởi đầu là Agribank, sau đó đến Vietinbank, để vào đầu quý 4/2012, các ngân hàng thi nhau tung ra hàng loạt con số nợ xấu như một hành động gây áp lực đối với Chính phủ.
Người đời nói không sai: vào bất cứ lúc nào ngân hàng phải kêu gào cầu cứu thì chính đó là thời điểm nền kinh tế thực sự nguy kịch. Không còn cầm giữ được những uẩn khúc trong bóng tối, các ngân hàng đã bắt buộc phải trưng sự thật ra ánh sáng, dù biết làm như thế họ sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ về uy tín và khả năng huy động tiền gửi, tình trạng tồn ứ vốn vay và triển khai những dự án, chương trình đặc quyền.
Trong tâm thế đặc quyền ấy, dĩ nhiên có cả động tác “tái cơ cấu nợ vay” mà các ngân hàng thương mại cổ phần đã được Ngân hàng nhà nước đặc cách “hướng dẫn” bởi văn bản 780 vào tháng 4/2012. Sau văn bản này, có khoảng 250.000 tỷ đồng đã được “sắp xếp lại”, với cái cách làm sao chưa thể trở thành nợ nguy cơ trực tiếp, giúp cho nhiều ngân hàng và doanh nghiệp con nợ tạm tránh thoát sự đe dọa cận kề.
Nhưng trong con mắt của giới phân tích về ngân hàng, hành động trên chỉ là cách “đẩy nợ cho tương lai”. Về bản chất, nợ xấu nói chung và nợ xấu bất động sản vẫn không thay đổi, nếu không muốn nói là còn tăng lên theo thời gian do nhiều con nợ đến hạn phải trả nhưng lại không thanh toán được. Do vậy, phương châm “đẩy nợ cho tương lai” chỉ đắc dụng một khi các con nợ tìm cách tiêu thụ được hàng tồn kho và trả được nợ.
Nhưng như hiện trạng mà tất cả mọi người đều nhìn rõ, trong hai năm qua đã chẳng hề hiện ra bất kỳ tín hiệu nào lạc quan nào đối với thị trường nhà đất, hệ số tiêu thụ gần như bằng 0, đặc biệt bi đát đối với phân khúc căn hộ cao cấp.
Điều không thể đáng buồn hơn là mọi chuyện dường như vẫn không hề thay đổi. Nói cách khác, “thời điểm Minsky” - một khái niệm trong tài chính quốc tế liên quan đến đáo hạn nợ vay - đang đến rất gần, nhưng tình thế vẫn chưa có chút nào khả quan.
Cũng vào cuối năm 2013, đã lần đầu tiên phát lộ kế hoạch phát hành trái phiếu của Chính phủ và Ngân hàng nhà nước, với giá trị kỷ lục 320.000 tỷ đồng trong năm 2014.
Không thể có bất kỳ một nguồn tiền mới nào để làm hồi sinh huyết quản ngân hàng và hồi phục nền kinh tế, Chính phủ chỉ còn cách dùng giấy để mua tiền.
Giai đoạn từ giữa đến cuối năm 2014 lại là thời gian mà các ngân hàng phải tiến hành đáo hạn vô số khoản vay đã được gia hạn đến 2 lần, từ những người đã từng có thời là đại gia bất động sản. Nhưng tỷ lệ sụt giảm lợi nhuận của các ngân hàng lại đang xác nhận cái được gọi là nguy cơ: sẽ có những ngân hàng đầu tiên phải ra đi vào cuối năm 2014 nếu không tự giải quyết được “món nợ xương máu” từ thị trường bất động sản. Hơn thế nữa, sự ra đi có tính dây chuyền của các ngân hàng lại có thể dẫn đến sự sụp đổ của nền kinh tế, vốn chỉ còn chân đứng rất mong manh.
P.C.D.
Tác giả trực tiếp gửi cho BVN
 
 (Nguồn: Huỳnh Ngọc Chênh blog)
----------------------------------
Lời bình của Mõ
Tôi đồng tình với nhận định của ông Phạm Chí Dũng trong bài viết. Theo tôi nếu NHNN áp dụng TT 02 vào quý 2-2014 thì nợ xấu của ngành ngân hàng phải tầm 40-60%.
Tuy nhiên tôi không tin là NHNN sẽ áp dụng TT 02 này vào năm nay hay sang năm. Tôi nghi ngờ về động cơ để NHNN ban hành TT02 trong thời điểm vô cùng nhạy cảm đó là thời điểm cuối năm 2012, thời điểm đáng lẽ họ phải là những kẻ nhạy cảm nhất bởi đó là thời điểm sức khoẻ các NHTM đã chết lâm sàng với nợ xấu mặc dù trước đó họ đã sử dụng hết các bình ôxy cứu trợ (như VB 780 chẳng hạn). Có lẽ những kẻ ban hành TT02 không lường được hậu quả của nó sẽ gây ra đối với con bệnh của họ, các NHTM. Đó có lẽ là những nước cờ sai lầm của những kẻ tham lam trong toan tính. Câu "khôn ngoan không lại với giời" là đây chăng?
Mặc dù chưa đến thời điểm để TT02 có hiệu lực sau một năm trì hoãn và ngành ngân hàng đang bận rộn, rối rít để "bán nợ" xấu cho VAMC, lại một chiêu trò ảo thuật tinh vi nữa, với mục đích là đưa nợ xấu của các NHNN về mức 5-6%. Tuy nhiên vấn đề mấu chốt của việc "bán nợ" vẫn không giải quyết được vì cách mà NHNN "bán nợ" hiện này thực ra là chả làm gì cả. Họ chỉ gom lại một đống rồi để đó. Những điểm mấu chốt gây ra nợ xấu không hề được giải quyết. Khi TT02 có hiệu lực sẽ lại đưa tỷ lệ nợ xấu cao trở lại, thậm chí còn cao hơn trước đó (hiệu lực của VB 780 cũng hết). Nhiều NHTM đã lên tiếng than phiền và "tha thiết" đề nghị NHNN trì hoãn thêm hiệu lực của TT02. Là một người quan sát, tôi cá chắc rằng có cho kẹo ông Bình cũng không thể nhắm mắt làm ngơ trước những lời kêu cứu của những NHTM sắp chết này. Nghĩa là TT02 sẽ còn được trì hoãn dài dài. Có ai cá với tôi không? Tỷ lệ 1:100? (Tôi: Bạn)

Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2013

Chưa đầy một tuần có hai vụ tự tử trong đồn công an

*MLC:Trong vòng chưa đầy một tuần mà có đến hai kết luận về hai vụ tự tử tại cơ quan công an khiến cho Mõ tôi bị sốc thật sự. Liệu đằng sau những kết luận lạnh lùng này có là những sự thật được che đậy ? Câu hỏi cứ đeo đẳng tôi mãi mà không sao tìm được câu trả lời: sao người dân lại thích vào đồn công an tự tử như vậy nhỉ? Với những tội danh không phải là nặng nề (nếu phải buộc tội) mà người dân lại tuyệt vọng đến độ không tiếc gì mạng sống của mình? Ai trả lời giúp tôi không?

Vụ thứ nhất: Ngày 19/12, đại tá Nguyễn Nhật Tâm- Phó giám đốc Công an tỉnh Phú Yên đã trao đổi với báo chí cho biết nguyên nhân cái chết của bị can Trần Thị Hải Yến (SN 1982, ở xã An Cư, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên) là do thắt cổ tự tử.
Nguồn tại đây: http://www.doisongphapluat.com/tin-tuc/su-kien-hang-ngay/mot-phu-nu-treo-co-tu-tu-bat-thuong-trong-buong-tam-giam-a14376.html#.UraiYPvdNIQ
Vụ thứ hai : Ngày 22/12, các đơn vị nghiệp vụ Công an tỉnh Bình Dương phối hợp cùng Công an thị xã Dĩ An đang tiến hành khám nghiệm tử thi để làm rõ nguyên nhân tử vong của anh Đinh Ngọc H. (36 tuổi, ngụ TX Dĩ An) và sau đó đã bàn giao cho gia đình lo hậu sự...
Nguồn tại đây: http://dantri.com.vn/xa-hoi/bi-tam-giu-nam-thanh-nien-treo-co-trong-tru-so-cong-an-818559.htm

Thứ Sáu, 20 tháng 12, 2013

Sôi nổi mua bán nợ xấu



Lời dẫn
Mua bán nợ xấu: Mấu chốt vẫn là tiền đâu?
Phớt lờ trước hàng loạt chỉ trích từ các chuyên gia kinh tế trong nước cũng như thế giới về tính khả thi của phương án xử lý mua bán nợ xấu của chính phủ VN. Hiện các ngân hàng thương mại VN đang sôi nổi thực hiện các thương vụ mua bán nợ theo chỉ đạo của NHNN và Cty Quản lý tài sản của các tín dụng (VAMC). Dù mới chỉ là giai đoạn bắt đầu nhưng cũng không khó để dự đoán kết cục của nó qua nhìn nhận một vài biểu hiện.
Mõ Làng Chờ

(Ảnh minh hoạ)
Trái phiếu đặc biệt hay …giấy lộn?
Như  chúng ta đã biết, thủ tướng VN đã chọn phương án phát hành trái phiếu đặc biệt dùng đểmua những khoản nợ xấu thay vì bơm tiền mặt cho các ngân hàng thươngmại.  Thương vụ sẽ được thực hiện theo cách các TCTD bán các khoản nợ xấu cho VAMC và nhận về …một tờ giấy (hay tập giấy) - được gọi là trái phiếu đặc biệt. Về lý thuyết trái phiếu đặc biệt này được lưu ký tại NHNN và sử dụng để vay tái cấp vốn.  Vậy trên thực tế tập giấy này có thể  sử dụng để vay tái cấp vốn từ NHNN không? Vì nếu sử dụng để vay vốn thì NHNN lại phải đưa tiền cho các TCTD nếu làm được việc này thì NHNN sao không lựa chọn phương án bơm tiền mà phải chọn phương án phát hành trái phiếu đặc biệt?. Vậy cái trái phiếu đặc biệt này là cái gì vậy?  nó có được coi là “trái phiếu” không?.
Ai cũng biết trái phiếu thực chất là một khoản vay nợ.  Theo nguyên tắc nếu một tổ chức hoặc chính phủ phát hành trái phiếu ra thị trường thì trái phiếu đó phải có người mua và đưa tiền cho CP hay tổ chức đó. Đằng này các TCTD trao khoản nợ của khách hàng cho VAMC  (không có tiền) và VAMC trao cho họ tờ giấy (cũng chẳng phải là tiền) để …hạch toán hình thức.
Vấn đề pháp lý khi TCTD bán nợ xấu cho VAMC
Trở lại thực tế nghiệp vụ mua bán nợ xấu hiện nay, khi NHNN nhận khoản nợ xấu từ các TCTD, thay vì quản lý và thực hiện các nghiệp vụ đòi nợ khách hàng, NHNN  lại uỷ quyền lại cho các TCTD thay mình thực hiện các quyền đó.
Đến đây lại có một vấn đề về mặt pháp lý.
Theo Khoản 4 Điều 18 TT 19/2013/TT-NHNN “Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng mua, bán nợ, tổ chức tín dụng phải thông báo cho khách hàng vay…để thực hiện nghĩa vụ đối với  VAMC”.  Vậy trường hợp khách hàng không đồng ý thay đổi nghĩa vụ trả nợ đối với VAMC thì sao? bởi NĐ 53 lẫn TT 19 đều là văn bản dưới luật và tính tuân thủ pháp lý thấp hơn Luật dân sự 2005. Nếu không thận trọng các TCTD sẽ dính vào các vụ kiện tụng đối với khách hàng nếu cứ đơn phương bán nợ cho VAMC.
Trò ảo thuật mới: Úm ba la ba la nợ xấu  đâu …biến !
Thật không ngoa khi trước đó TS Alan Phan nói rằng “cần một trò ảo thuật mới” khi mô tả cách mà chính phủ "xử lý" đống nợ xấu khổng lồ của các NHTM. Trớ trêu thay, lời giễu cợt đó lại chính là cách mà NHNN Việt Nam lựa chọn và đang thực hiện. Tuy nhiên nó còn hơn cả trò ảo thuật. Từ cách phát hành trái phiếu đặc biệt, cách uỷ quyền truy đòi nợ cho TCTD cho đến cách “trả lại khoản nợ” cho TCTD là một quy trình  khép kín. Nhưng cũng đáng khen vì để che ủ được đống phân to lù lù như vậy mà không ai nhìn thấy thì quả là những đại tài...ảo thuật.
Vậy thực chất nợ xấu có giảm?. Câu trả lời là về hình thức thì đúng vậy nhưng thực chất thì chưa chắc vì dù có được thực hiện bởi những ảo thuật gia tài giỏi nhất, khoản nợ xấu đó không hề biến mất. Nó chỉ được phép ảo thuật hô biến vào một xó đậy lại, ủ kỹ. Đứng dưới góc độ các nhà quản trị đất nước thì đây là một điều… hạnh phúc bởi truyền thống ở xứ này, giới quan chức vốn chỉ yêu những thứ hào nhoáng và giả tạo.
Vậy còn dưới góc độ các nhà băng ngoài những lợi ích dễ nhận thấy như nợ xấu giảm, được xử lý rủi ro số tiền đã trích lập dự phòng cho khoản vay (sử dụng tiền bỏ giỏ để tái cho vay)? Với họ nợ xấu giảm chưa chắc đã là một tin vui vì có không muốn cũng bắt buộc phải bán (theo Thông tư19 những TCTD có nợ xấu từ 3% trở lên bắt buộc phải bán nợ cho VAMC). Dù có che lại, ủ kỹ, nợ xấu vẫn là nợ xấu. Ai sẽ trả lãi cho các khoản vay để các nhà băng này có lợi nhuận?.  Liệu có ai cần vay tiền (số tiền các nhà băng được sử dụng từ nguồn trích lập dự phòng) để làm ăn trong khi nền kinh tế ảm đạm, các doanh nghiệp làm ăn, kinh doanh thua lỗ, phá sản hay nói một cách dân dã là trong thời “củi châu gạo quế” này?

Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2013

Cái “đại cục” nó to bằng nào*

Cái “đại cục” nó to bằng nào

muTổng bí thư đã lấy chuyện “Đến Đường Tăng đi lấy kinh cũng phải hối lộ. Bước chân sang nước Phật đã hối lộ…”. Nhưng điều đó không có nghĩa là ở đâu cũng giữ đại cục bằng cách chỉ những con sâu bên cái cây nhà hàng xóm.

Vụ tham nhũng tiền cứu trợ trẻ em tàn tật ở Hà Giang đang có một kết cục ngoài sức tưởng tượng khi cơ quan điều tra giao Sở LĐ-TB và XH xử lý hành chính hành vi tham ô để giữ…đại cục.
Vụ án đơn giản: Giám đốc Trung tâm cứu trợ trẻ em tàn tật, thuộc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Hà Giang cùng thủ quỹ và kế toán đã “ăn bớt” của trẻ khuyết tật hơn 181 triệu đồng bằng cách không phát hết số tiền hỗ trợ cho trẻ khuyết tật đến khám sàng lọc và sau đó lập chứng từ khống để quyết toán.
Trong hồ sơ hình sự, ghi rõ “Đây là vụ việc có dấu hiệu phạm tội tham ô tài sản”, gồm các tình tiết tăng nặng như “phạm tội có tổ chức”, “số tiền chi sai và chiếm hưởng với số lượng lớn lên đến 181.950.000 đồng”.
Có thể tưởng tượng được không khi người ta ăn bớt của những đứa trẻ từ vài chục ngàn tiền hỗ trợ đi lại, ăn uống.
Tuy nhiên, vụ án sau đó đã được bàn giao cho Sở Lao động, Thương binh và Xã hội để xử lý hành chính.
Báo Nhân dân dẫn lời Giám đốc Sở Lý Quang Thái giải thích tờ công văn triện đỏ đề nghị xử lý hành chính, rằng: “Hà Giang là tỉnh nghèo, có rất nhiều trẻ em tàn tật cần được hỗ trợ. Nếu cơ quan điều tra khởi tố hình sự, tôi sợ các tổ chức, cá nhân sẽ biết chuyện, không hỗ trợ cho nữa”.
Trong những lời lẽ của ông Giám đốc, còn có mấy chữ “để góp phần ổn định chính trị tại địa phương”. Và việc không xử lý hình sự là vì…đại cục, vì cái to lớn hơn.
Tại Quốc hội kỳ họp vừa rồi, biết bao nhiêu băn khoăn thắc mắc trước tình trạng có tỉnh 2 năm chỉ xử được 3 vụ án tham nhũng, hay xử 9 bị cáo thì 8 người được hưởng án treo. Các vị ĐBQH bức xúc, nhân dân bức xúc, trong buổi tiếp xúc cử tri gần đây, TBT Nguyễn Phú Trọng cũng nhận định về công tác phòng chống tham nhũng rằng “Lâu nay “phòng” chúng ta cũng yếu, “chống” cũng chưa quyết liệt”. Ông cũng hoàn toàn ủng hộ quan điểm của các cử tri rằng, “chống tham nhũng phải làm nhanh hơn, mạnh hơn, làm nghiêm hơn chứ không thể để xử lâu, xử nhẹ, án treo nhiều”.
Nhưng câu chuyện Hà Giang hôm nay trả lời rốt ráo cho hiệu quả của công tác tham nhũng: Là vì ổn định chính trị tại địa phương. Là vì…đại cục. Dù không một đứa trẻ tàn tật ở Hà Giang biết cái đại cục đó nó to bé mặt mũi thế nào. Dù nhân dân không thể hiểu tại sao bật đèn xanh cho tham nhũng lại có thể gọi là ổn định chính trị địa phương.
Nếu ai cũng chống tham nhũng bằng cái đại cục như Hà Giang thì biết bao giờ mới tìm thấy một bộ phận không nhỏ?
Nếu ở đâu cũng mang đại cục ra để xử lý thì liệu đất nước này làm gì còn có cái đại cục nào để giữ khi những hành vi tham nhũng hai năm rõ mười, gây bức xúc dư luận khi xâm phạm cả quyền lợi của những người yếu thế rõ ràng như thế mà lại xử lý hành chính vì…đại cục.
Tổng bí thư, trong buổi tiếp xúc cử tri đã lấy chuyện “Đến Đường Tăng đi lấy kinh cũng phải hối lộ. Bước chân sang nước Phật đã hối lộ…” để nói về việc phải xem xét, bình tĩnh , tỉnh táo, sáng suốt…”. Bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt, hoàn toàn không có nghĩa là ở đâu cũng báo cáo không có tham nhũng, ở đâu cũng giữ đại cục bằng cách chỉ những con sâu bên cái cây nhà hàng xóm.

Thứ Ba, 10 tháng 12, 2013

Giang hồ tấn công buồng biệt giam giải cứu đại ca*

*Gần đây xuất hiện nhiều nhóm côn đồ "tự phát" tấn công những người đấu tranh cho dân chủ như Bùi Hằng bằng những bịch mắm tôm trong buổi lễ phát bóng bay nhân quyền ở Sài Gòn, LS Lê Thị Công Nhân bị côn đồ tại công an P. Thuỵ Khuê, Hà Nội vây đánh , v.v. Hôm nay gặp tin này Mõ tui thốt lên "như vậy mới xứng danh đối thủ chứ" và đề nghị với quý báo này đặt lại tiêu đề là "Giang hồ  VS Giang hồ công an nhân dân".

----------------------------------------------------

Đám đông mang theo hung khí phá khóa cổng trung tâm cai nghiện, chém bảo vệ, mở cửa giải cứu Long "Rồng đỏ" trong buồng biệt giam.

Chiều 9/12, Công an tỉnh Bình Thuận và Trung tâm Chữa bệnh, Giáo dục, Lao động xã hội Bình Thuận (trực thuộc Sở Lao động thương binh và xã hội) họp khẩn vì một nhóm giang hồ tấn công trung tâm, khống chế bảo vệ và giải thoát Long “Rồng đỏ” ra khỏi trại cai nghiện vào rạng sáng cùng ngày. Đây là vụ việc gây chấn động tại Bình Thuận vì chỉ trong vòng 5 ngày, Long hai lần được đàn em tiếp ứng, giải cứu ra khỏi trung tâm.
Theo hồ sơ, Long “Rồng đỏ” hay còn gọi là Long “Tam đầu”, “anh Hai”, tên đầy đủ là Nguyễn Ngọc Long (37 tuổi), hộ khẩu thường trú tại Cam Ranh, Khánh Hòa. Tháng 10/2012, Long bị đưa vào tập trung cai nghiện, chữa bệnh tại Trung tâm Chữa bệnh, Giáo dục, Lao động xã hội Bình Thuận (trung tâm) đóng trên địa bàn thị trấn Phú Long, huyện Hàm Thuận Bắc.
Sau thời gian nghiên cứu quy luật sinh hoạt của trung tâm, Long bắn tin để các đàn em bên ngoài chuẩn bị hung khí đưa vào trung tâm để Long tự giải thoát. Khoảng 15h30 ngày 4/12, Long cùng các học viên trong trung tâm được đưa ra sân chơi thể thao. Lợi dụng các học viên đang say mê chơi bóng đá, Long cùng hai học viên khác là Nguyễn Văn Nhí và Huỳnh Văn Cảnh giả vờ đùa giỡn, rượt đuổi nhau chạy đến gần cánh cổng. Lúc này, nhóm đàn em của Long chờ sẵn ở phía ngoài, đưa vào ô cửa sổ cổng sắt một kiếm Nhật, một mã tấu, một búa tạ, dao bấm và bình xịt hơi cay.
Nhận được hung khí, Long cùng Nhí và Cảnh truy đuổi, chém vào cánh tay một bảo vệ. Sau đó Long dùng bình xịt hơi cay và mã tấu truy sát các bảo vệ còn lại để cho hai học viên dùng búa phá khóa cổng rồi cả ba ung dung ra ngoài, leo lên xe và đàn em nổ máy đưa ba người tẩu thoát.
binh-thuan-6973-1386643599.jpg
Con dao và chiếc kìm khá khóa nhóm giang hồ vứt lại trung tâm.
Vụ tổ chức trốn trại liều lĩnh, hung hăng do Long “Rồng đỏ” cầm đầu đã gây chấn động tại trung tâm. Chiều 7/12, sau ba ngày trốn khỏi trung tâm, Long “Rồng đỏ” chạy mô tô trên đường, dù đã dùng khẩu trang bịt mặt nhưng vẫn bị các trinh sát Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bình Thuận phát hiện, bắt giữ tại phường Phú Thủy, TP Phan Thiết. Khám xét trong người Long thu giữ một tép ma túy "đá".
Công an giao Long cho trung tâm và nơi đây đưa Long vào nhà kỷ luật biệt giam. Các cơ quan chức năng dự kiến sẽ giao Long cho Công an huyện Hàm Thuận Bắc để khởi tố, điều tra, xử lý Long về tội Cố ý gây thương tích.
Đến 1h ngày 9/12, hơn chục thanh niên mang theo hung khí trèo cổng đột nhập vào trung tâm. Sau đó nhóm thanh niên này dùng kìm cộng lực phá khóa cổng. Bị bảo vệ trung tâm phát hiện, lập tức nhóm thanh niên này dùng mã tấu, kiếm Nhật lao vào truy sát toán bảo vệ, chém vào bụng bảo vệ Nguyễn Ngọc Sa.
Nạn nhân gục ngã, ra máu nhiều nhưng nhóm thanh niên vẫn kề dao vào cổ anh Sa yêu cầu giao chìa khóa phòng biệt giam Long. Sau khi lục soát người nạn nhân không tìm thấy chìa khóa, nhóm thanh niên này khống chế toàn bộ trung tâm, đến khu vực nhà kỷ luật gõ cửa từng phòng gọi to “anh Hai” để xác định nơi giữ Long. Sau khi biết nơi Long bị biệt giam, đám đàn em dùng kìm cộng lực phá khóa giải cứu cho Long. Bên ngoài, hàng chục môtô dàn hàng ngang nổ máy chờ sẵn. Một lần nữa, Long “Rồng đỏ” trốn trại thành công.
Tại hiện trường, chúng bỏ lại một cây mã tấu dài khoảng 70 cm và một cây kềm cộng lực. Nhiều nhân chứng khi thuật lại vẫn chưa hết kinh hoàng vì việc giải cứu được tổ chức chặt chẽ, chuyên nghiệp như trong phim hành động.
Công an tỉnh Bình Thuận đang truy bắt gắt gao Long “Rồng đỏ” cùng các đàn em của hắn.
Theo Pháp luật TP HCM